Featured

Ca Nhạc Hoàng Vân
My Facebook
Bi Trí Dũng Youtube
Chính Trị
Nghe sách T.T.H (MP3)
Thầy Tuệ Hải
Nghe sách tâm linh
Phụng Sự Chân Lý
Thông Thiên Học 1
Thông Thiên Học 2
MUÔN KIẾP NHÂN SINH
Kinh Phật
Trần Tuấn Linh & Hồng Thúy
Trần Năng Phụng
Paul Mauriat
Học vẽ tranh với Thomas Kinkade
70 Năm Tình Ca Trong Âm Nhạc Việt Nam
Sách và Tài Liệu Quý Miền Nam Quốc Gia – VNCH
Nhạc Ngoại Quốc Lời Việt
Tình Khúc Vượt Thời Gian
Nguyên Phong
Truyện Ngắn Hay
Tiểu Thuyết
TUẦN BÁO THIẾU NHI
NHẬT TIẾN VÀ “CẶP MẮT CHUỒN CHUỒN”
Nhà văn Đỗ Phương Khanh
EDGAR CAYCE
Forgotten Books  
   
The Notebooks of Paul Brunton
Nghe Đọc Truyện Ngắn Hay
SINH HOẠT CỘNG ĐỒNG
BÍ QUYẾT CHỐNG LÃO HÓA
Vietnamconghoa.tv
MẠNG LƯỚI NHÂN QUYỀN VIỆT NAM
Ánh Dương
Trang Nhạc  Hoàng Vân
Thông Thiên Học
Văn Học và Khoa Học
Nhà Văn Nhật Tiến
TƯỞNG NIỆM NHÀ VĂN NHẬT TIẾN
Hà Huyền Chi
THƠ HÀ HUYỀN CHI & NHẠC HOÀNG VÂN
GS Trần Huy Bích
Nguyễn Tài Ngọc
Nguyễn Ngọc Ngạn
Cô Giáo Minh Phượng
Trần Ngọc Autumn
Trương Bửu Giám
Swan Mosaic
Quán Ven Đường
Nhìn Ra Bốn Phương
Khai Phi’s Website
Song Thao
Céline Dion
TUBI TV
Whois Domain    
Lịch Sử
The Interpretor – Dịch Việt Ngữ
Cali Today  
Nguoi Viet    
Vien Dong
Tieng Dan  
Nguyễn Đạt Thịnh 
Ngô Nhân Dụng
Nguyễn Quốc Khải
Politics
BBC Tiếng Việt
RFI Tiếng Việt
VOA Tiếng Việt
RFA Tiếng Việt  
NEAR DEATH EXPERIENCES
Thần Giao Cách Cảm
MY CAT FROM HELL
Nhạc Việt Nam
Guitar & Violin hay
Nhạc Pháp
Nhạc Mỹ
Nhạc để tập Aerobic
Lâu Đài San Hô
25 Ancient Ruins  
TIMELINE
Tâm Hồn Mùa Thu – nhạc Tràn Tuấn Linh – giọng ca Hoàng Vân
Xao Lòng – nhạc Tràn Tuấn Linh – giọng ca Hoàng Vân
Ngàn Năm Vẫn Chờ – nhạc Hồng Thúy và Trần Tuấn Linh – giọng ca Hoàng Vân
Bến Xuân Xanh – Dương Thiệu Tước – giọng ca Hoàng Vân
Hát Đi Em – nhạc Trần Tuấn Linh – giọng ca Hoàng Vân
Trăm Năm Cuộc Tình – NS Trần Tuấn Linh – giọng ca Hoàng Vân
Đàn Vào Cung Nhớ – Trần Tuấn Linh – Hoàng Vân
Thúy Nga Music Box (Full Shows)

BÍ QUYẾT CHỐNG LÃO HÓA

Dopamine là gì?

Dopamine là một loại chất dẫn truyền thần kinh. Cơ thể bạn tạo ra nó và hệ thống thần kinh của bạn sử dụng nó để gửi thông điệp giữa các tế bào thần kinh. Đó là lý do tại sao nó đôi khi được gọi là chất truyền tin hóa học.

Dopamine đóng một vai trò trong cách chúng ta cảm thấy vui vẻ. Đó là một phần quan trọng trong khả năng suy nghĩ và lập kế hoạch duy nhất của con người chúng ta. Nó giúp chúng ta phấn đấu, tập trung và tìm thấy những điều thú vị.

Cơ thể của bạn sẽ phát tán nó dọc theo bốn con đường chính trong não. Giống như hầu hết các hệ thống khác trong cơ thể, bạn không nhận thấy nó (hoặc thậm chí có thể biết về nó) cho đến khi có sự cố.

Quá nhiều hoặc quá ít có thể dẫn đến một loạt các vấn đề sức khỏe. Một số bệnh nghiêm trọng, như bệnh Parkinson. Những bệnh khác ít ghê hơn nhiều.

Kiến thức cơ bản về Dopamine

Nó được tạo ra trong não thông qua một quá trình hai bước. Đầu tiên, nó thay đổi axit amin tyrosine thành một chất gọi là dopa, và sau đó thành dopamine.

Nó ảnh hưởng đến nhiều phần hành vi và chức năng thể chất của bạn, chẳng hạn như:

Học tập

Động lực

Nhịp tim

Chức năng mạch máu

Chức năng thận

Cho con bú

Ngủ

Tâm trạng

Chú ý

Kiểm soát buồn nôn và nôn mửa

Xử lý cơn đau

Phong trào

Vai trò trong sức khỏe tâm thần

Thật khó để xác định một nguyên nhân duy nhất của hầu hết các rối loạn và thách thức về sức khỏe tâm thần. Nhưng chúng thường liên quan đến quá nhiều hoặc quá ít dopamine trong các phần khác nhau của não. Những ví dụ bao gồm:

Tâm thần phân liệt. Nhiều thập kỷ trước, các nhà nghiên cứu tin rằng các triệu chứng bắt nguồn từ hệ thống dopamine quá hiếu động. Bây giờ chúng ta biết rằng một số là do quá nhiều hóa chất này trong một số bộ phận của não. Điều này bao gồm ảo giác và ảo tưởng. Việc thiếu nó ở các bộ phận khác có thể gây ra các dấu hiệu khác nhau, chẳng hạn như thiếu động lực và ham muốn.

ADHD. Không ai biết chắc điều gì gây ra chứng rối loạn tăng động giảm chú ý (ADHD). Một số nghiên cứu cho thấy nó có thể là do sự thiếu hụt dopamine. Vấn đề này có thể do gen của bạn. Thuốc ADHD methylphenidate (Ritalin) hoạt động bằng cách tăng cường dopamine.

Lạm dụng và nghiện ma tuý. Các loại ma túy như cocaine có thể gây ra sự gia tăng nhanh chóng dopamine trong não của bạn. Điều đó thỏa mãn hệ thống phần thưởng tự nhiên của bạn một cách đáng kể. Nhưng việc sử dụng ma túy lặp đi lặp lại cũng làm tăng ngưỡng cho loại khoái cảm này. Điều này có nghĩa là bạn cần phải mất nhiều hơn để đạt được mức cao tương tự. Trong khi đó, ma túy làm cho cơ thể bạn ít có khả năng sản xuất dopamine một cách tự nhiên. Điều này dẫn đến cảm xúc xuống thấp khi bạn tỉnh táo.

==================================================

Người già thường thiếu Dopamine trong não, từ đó bị lão hóa, trầm cảm vv…..

DINH DƯỠNG

10 cách tốt nhất để tăng mức Dopamine một cách tự nhiên.

Dopamine là một chất truyền tin hóa học quan trọng trong não có nhiều chức năng.

Nó liên quan đến phần thưởng, động lực, trí nhớ, sự chú ý và thậm chí điều chỉnh các chuyển động của cơ thể.

Khi dopamine được giải phóng một lượng lớn, nó tạo ra cảm giác thích thú và phần thưởng, thúc đẩy bạn lặp lại một hành vi cụ thể.

Ngược lại, mức độ dopamine thấp có liên quan đến việc giảm động lực và giảm sự nhiệt tình đối với những thứ có thể kích thích hầu hết mọi người.

Nồng độ dopamine thường được điều chỉnh tốt trong hệ thống thần kinh, nhưng có một số điều bạn có thể làm để tăng mức độ một cách tự nhiên.

Dưới đây là 10 cách hàng đầu để tăng mức dopamine một cách tự nhiên.

1. Ăn nhiều Protein.

Protein được tạo thành từ các khối xây dựng nhỏ hơn được gọi là axit amin.

Có 23 loại axit amin khác nhau, một số loại mà cơ thể bạn có thể tổng hợp và một số loại khác mà bạn phải lấy từ thức ăn.

Một axit amin được gọi là tyrosine đóng một vai trò quan trọng trong việc sản xuất dopamine.

Các enzym trong cơ thể của bạn có khả năng biến tyrosine thành dopamine, do đó, có đủ mức tyrosine là rất quan trọng để sản xuất dopamine.

Tyrosine cũng có thể được tạo ra từ một axit amin khác gọi là phenylalanin.

Cả tyrosine và phenylalanine đều được tìm thấy tự nhiên trong các loại thực phẩm giàu protein như gà tây, thịt bò, trứng, sữa, đậu nành và các loại đậu.

Các nghiên cứu cho thấy rằng việc tăng lượng tyrosine và phenylalanine trong chế độ ăn uống có thể làm tăng mức dopamine trong não, có thể thúc đẩy suy nghĩ sâu và cải thiện trí nhớ.

Ngược lại, khi loại bỏ phenylalanin và tyrosine khỏi chế độ ăn, nồng độ dopamine có thể bị cạn kiệt.

Mặc dù các nghiên cứu này cho thấy rằng việc hấp thụ các axit amin này cực kỳ cao hoặc cực thấp có thể ảnh hưởng đến mức dopamine, nhưng vẫn chưa biết liệu các biến thể bình thường trong lượng protein có ảnh hưởng nhiều hay không.

TÓM LƯỢC.

Dopamine được sản xuất từ ​​các axit amin tyrosine và phenylalanine, cả hai đều có thể được lấy từ thực phẩm giàu protein. Việc hấp thụ rất cao các axit amin này có thể làm tăng mức dopamine.

2. Ăn ít chất béo bão hòa.

Một số nghiên cứu trên động vật đã phát hiện ra rằng chất béo bão hòa, chẳng hạn như chất béo có trong mỡ động vật, bơ, sữa nguyên chất béo, có thể làm gián đoạn tín hiệu dopamine trong não khi tiêu thụ với số lượng rất lớn.

Cho đến nay, những nghiên cứu này chỉ được thực hiện trên chuột, nhưng kết quả thu được rất hấp dẫn.

Một nghiên cứu cho thấy những con chuột tiêu thụ 50% calo từ chất béo bão hòa đã làm giảm tín hiệu dopamine trong các vùng tưởng thưởng của não, so với những con vật nhận cùng một lượng calo từ chất béo không bão hòa.

Điều thú vị là những thay đổi này xảy ra ngay cả khi không có sự khác biệt về trọng lượng, lượng mỡ trong cơ thể, hormone hoặc lượng đường trong máu.

Một số nhà nghiên cứu đưa ra giả thuyết rằng chế độ ăn giàu chất béo bão hòa có thể làm tăng tình trạng viêm trong cơ thể, dẫn đến những thay đổi trong hệ thống dopamine, nhưng vẫn cần nghiên cứu thêm.

Một số nghiên cứu quan sát đã tìm thấy mối liên hệ giữa lượng chất béo bão hòa cao với trí nhớ kém và chức năng nhận thức ở người, nhưng vẫn chưa biết liệu những tác động này có liên quan đến mức dopamine hay không.

TÓM LƯỢC.

Các nghiên cứu trên động vật đã phát hiện ra rằng chế độ ăn giàu chất béo bão hòa có thể làm giảm tín hiệu dopamine trong não, dẫn đến phản ứng khen thưởng bị giảm sút. Tuy nhiên, không rõ liệu điều này có đúng ở con người hay không. Nghiên cứu thêm là cần thiết.

3. Tiêu thụ Probiotics.

Trong những năm gần đây, các nhà khoa học đã phát hiện ra rằng ruột và não có mối liên hệ chặt chẽ với nhau.

Trên thực tế, ruột đôi khi được gọi là “bộ não thứ hai” vì nó chứa một số lượng lớn các tế bào thần kinh sản xuất nhiều phân tử truyền tín hiệu dẫn truyền thần kinh, bao gồm cả dopamine.

Bây giờ rõ ràng là một số loài vi khuẩn sống trong ruột của bạn cũng có khả năng sản xuất dopamine, có thể ảnh hưởng đến tâm trạng và hành vi.

Nghiên cứu trong lĩnh vực này còn hạn chế. Tuy nhiên, một số nghiên cứu cho thấy rằng khi tiêu thụ với số lượng đủ lớn, một số chủng vi khuẩn nhất định có thể làm giảm các triệu chứng lo lắng và trầm cảm ở cả động vật và con người.

Mặc dù có mối liên hệ rõ ràng giữa tâm trạng, men vi sinh và sức khỏe đường ruột nhưng người ta vẫn chưa hiểu rõ về nó.

Có vẻ như việc sản xuất dopamine đóng một vai trò trong cách thức chế phẩm sinh học cải thiện tâm trạng, nhưng cần phải nghiên cứu thêm để xác định mức độ ảnh hưởng đáng kể.

TÓM LƯỢC.

Các chất bổ sung probiotic có liên quan đến việc cải thiện tâm trạng ở người và động vật, nhưng cần phải nghiên cứu thêm để xác định vai trò chính xác của dopamine.

4. Ăn Đậu Nhung.

Đậu nhung, còn được gọi là Mucuna pruriens, tự nhiên chứa hàm lượng cao L-dopa, phân tử tiền thân của dopamine.

Các nghiên cứu cho thấy rằng ăn những loại đậu này có thể giúp tăng mức dopamine một cách tự nhiên, đặc biệt là ở những người mắc bệnh Parkinson, một chứng rối loạn vận động do mức dopamine thấp.

Một nghiên cứu nhỏ ở những người bị bệnh Parkinson cho thấy rằng tiêu thụ 250 gam đậu nhung nấu chín làm tăng đáng kể mức dopamine và giảm các triệu chứng Parkinson từ một đến hai giờ sau bữa ăn.

Tương tự như vậy, một số nghiên cứu về thuốc bổ Mucuna pruriens nhận thấy rằng chúng thậm chí có thể hiệu quả hơn và lâu dài hơn các loại thuốc điều trị Parkinson truyền thống, cũng như có ít tác dụng phụ hơn.

Hãy nhớ rằng đậu nhung có độc tính với số lượng cao. Đảm bảo tuân theo các khuyến nghị về liều lượng trên nhãn sản phẩm.

Mặc dù những thực phẩm này là nguồn tự nhiên của L-dopa, nhưng điều quan trọng là bạn phải tham khảo ý kiến ​​bác sĩ trước khi thực hiện thay đổi chế độ ăn uống hoặc thói quen bổ sung.

TÓM LƯỢC.

Đậu nhung là nguồn tự nhiên của L-dopa, một phân tử tiền thân của dopamine. Các nghiên cứu cho thấy rằng chúng có thể có hiệu quả tương tự như thuốc điều trị Parkinson trong việc tăng mức dopamine.

..

5. Tập thể dục thường xuyên

Tập thể dục được khuyến khích để tăng mức endorphin và cải thiện tâm trạng.

Những cải thiện về tâm trạng có thể được nhìn thấy sau ít nhất 10 phút hoạt động aerobic nhưng có xu hướng cao nhất sau ít nhất 20 phút.

Mặc dù những tác động này có thể không hoàn toàn do sự thay đổi mức dopamine, nhưng nghiên cứu trên động vật cho thấy rằng tập thể dục có thể tăng mức dopamine trong não.

Ở chuột, chạy trên máy chạy bộ làm tăng giải phóng dopamine và điều chỉnh số lượng các thụ thể dopamine trong các vùng tưởng thưởng của não.

Tuy nhiên, những kết quả này đã không được lặp lại một cách nhất quán ở người.

Trong một nghiên cứu, 30 phút chạy trên máy chạy bộ cường độ trung bình không làm tăng nồng độ dopamine ở người lớn.

Tuy nhiên, một nghiên cứu kéo dài ba tháng cho thấy rằng thực hiện một giờ yoga sáu ngày mỗi tuần làm tăng đáng kể mức dopamine.

Tập thể dục nhịp điệu thường xuyên cũng có lợi cho những người mắc bệnh Parkinson, một tình trạng trong đó mức dopamine thấp làm rối loạn khả năng kiểm soát chuyển động của não.

Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng tập thể dục cường độ cao thường xuyên vài lần mỗi tuần cải thiện đáng kể khả năng kiểm soát vận động ở những người bị Parkinson’s, cho thấy rằng có thể có tác dụng có lợi đối với hệ thống dopamine.

Cần có nhiều nghiên cứu hơn để xác định cường độ, loại và thời gian tập thể dục có hiệu quả nhất trong việc tăng cường dopamine ở người, nhưng nghiên cứu hiện tại rất hứa hẹn.

TÓM LƯỢC.

Tập thể dục có thể cải thiện tâm trạng và có thể tăng mức dopamine khi thực hiện thường xuyên. Nghiên cứu thêm là cần thiết để xác định các khuyến nghị cụ thể để tăng mức dopamine.

6. Ngủ Đủ giấc.

Khi dopamine được giải phóng trong não, nó sẽ tạo ra cảm giác tỉnh táo và tỉnh táo.

Các nghiên cứu trên động vật cho thấy dopamine được giải phóng một lượng lớn vào buổi sáng khi thức dậy và mức độ đó giảm tự nhiên vào buổi tối khi đã đến lúc đi ngủ.

Tuy nhiên, thiếu ngủ dường như làm gián đoạn những nhịp điệu tự nhiên này.

Khi mọi người buộc phải thức suốt đêm, khả năng sẵn có của các thụ thể dopamine trong não sẽ giảm đáng kể vào sáng hôm sau.

Vì dopamine thúc đẩy sự tỉnh táo, làm giảm độ nhạy của các thụ thể nên bạn sẽ dễ đi vào giấc ngủ hơn, đặc biệt là sau một đêm mất ngủ.

Tuy nhiên, có ít dopamine thường đi kèm với những hậu quả khó chịu khác như giảm khả năng tập trung và phối hợp kém.

Ngủ đều đặn, chất lượng cao có thể giúp giữ cân bằng mức dopamine và giúp bạn cảm thấy tỉnh táo và hoạt động hiệu quả hơn trong ngày.

Tổ chức Giấc ngủ Quốc gia khuyến nghị ngủ 7-9 giờ mỗi đêm để có sức khỏe tối ưu cho người lớn, cùng với vệ sinh giấc ngủ đúng cách.

Vệ sinh giấc ngủ có thể được cải thiện bằng cách ngủ và thức dậy vào cùng một thời điểm mỗi ngày, giảm tiếng ồn trong phòng ngủ, tránh dùng caffeine vào buổi tối và chỉ sử dụng giường để ngủ.

TÓM LƯỢC.

Thiếu ngủ có thể làm giảm độ nhạy dopamine trong não, dẫn đến cảm giác buồn ngủ quá mức. Ngủ một giấc ngon lành có thể giúp điều chỉnh nhịp điệu dopamine tự nhiên của cơ thể bạn.

7. Nghe nhạc.

Nghe nhạc có thể là một cách thú vị để kích thích giải phóng dopamine trong não.

Một số nghiên cứu hình ảnh não bộ đã phát hiện ra rằng nghe nhạc làm tăng hoạt động ở các vùng tưởng thưởng và khoái cảm của não, nơi có nhiều thụ thể dopamine.

Một nghiên cứu nhỏ điều tra tác động của âm nhạc đối với dopamine cho thấy mức độ dopamine trong não tăng 9% khi mọi người nghe các bài hát nhạc cụ khiến họ ớn lạnh.

Vì âm nhạc có thể tăng mức dopamine, nên nghe nhạc thậm chí còn được chứng minh là có thể giúp những người mắc bệnh Parkinson cải thiện khả năng kiểm soát vận động tinh của họ.

Cho đến nay, tất cả các nghiên cứu về âm nhạc và dopamine đều sử dụng giai điệu nhạc cụ để họ có thể chắc chắn sự gia tăng dopamine là do âm nhạc du dương – không phải lời bài hát cụ thể.

Cần nghiên cứu thêm để xem liệu các bài hát có lời bài hát có tác dụng tương tự hoặc có khả năng lớn hơn hay không.

TÓM LƯỢC.

Nghe nhạc cụ yêu thích của bạn có thể làm tăng mức dopamine của bạn. Cần nghiên cứu thêm để xác định ảnh hưởng của âm nhạc với lời bài hát.

8. Ngồi thiền.

Thiền là phương pháp thực hành để dọn dẹp tâm trí của bạn, tập trung vào bên trong và để cho suy nghĩ của bạn trôi đi mà không phán xét hay chấp trước.

Nó có thể được thực hiện trong khi đứng, ngồi hoặc thậm chí đi bộ, và luyện tập thường xuyên có liên quan tới sức khỏe tinh thần và thể chất.

Nghiên cứu mới đã phát hiện ra rằng những lợi ích này có thể là do mức dopamine trong não tăng lên.

Một nghiên cứu bao gồm tám giáo viên thiền có kinh nghiệm cho thấy sản xuất dopamine tăng 64% sau khi thiền trong một giờ, so với khi nghỉ ngơi yên tĩnh.

Người ta cho rằng những thay đổi này có thể giúp những người hành thiền duy trì tâm trạng tích cực và có động lực để duy trì trạng thái thiền định trong một thời gian dài hơn.

Tuy nhiên, vẫn chưa rõ liệu những tác dụng tăng cường dopamine này chỉ xảy ra ở những người tập thiền có kinh nghiệm hay chúng cũng xảy ra ở những người mới tập thiền.

TÓM LƯỢC.

Thiền định làm tăng mức dopamine trong não của những người hành thiền có kinh nghiệm, nhưng không rõ liệu những tác dụng này có xảy ra ở những người mới tập thiền hay không.

9. Nhận đủ ánh sáng mặt trời.

Rối loạn cảm xúc theo mùa (SAD) là một tình trạng mà mọi người cảm thấy buồn hoặc chán nản trong mùa đông khi họ không được tiếp xúc với đủ ánh sáng mặt trời.

Ai cũng biết rằng thời gian tiếp xúc với ánh nắng mặt trời thấp có thể dẫn đến giảm mức độ chất dẫn truyền thần kinh thúc đẩy tâm trạng, bao gồm dopamine và tiếp xúc với ánh nắng mặt trời có thể làm tăng chúng.

Một nghiên cứu ở 68 người trưởng thành khỏe mạnh cho thấy những người tiếp xúc nhiều với ánh sáng mặt trời nhất trong 30 ngày trước đó có mật độ thụ thể dopamine cao nhất trong vùng thưởng và vùng vận động của não bộ.

Mặc dù tiếp xúc với ánh nắng mặt trời có thể làm tăng mức dopamine và cải thiện tâm trạng, nhưng điều quan trọng là phải tuân thủ các nguyên tắc an toàn vì phơi nắng quá nhiều có thể gây hại và có thể gây nghiện.

Một nghiên cứu ở những người thuộc da bắt buộc đến thăm giường tắm nắng ít nhất hai lần mỗi tuần trong một năm cho thấy rằng các buổi tắm nắng dẫn đến sự gia tăng đáng kể mức dopamine và mong muốn lặp lại hành vi.

Ngoài ra, tiếp xúc với ánh nắng mặt trời quá nhiều có thể gây tổn thương da và tăng nguy cơ ung thư da, vì vậy điều độ là rất quan trọng.

Thông thường, bạn nên hạn chế tiếp xúc với ánh nắng mặt trời trong giờ cao điểm khi bức xạ tia cực tím mạnh nhất, thường từ 10 giờ sáng đến 2 giờ chiều và thoa kem chống nắng bất cứ khi nào chỉ số UV trên 3.

TÓM LƯỢC.

Tiếp xúc với ánh nắng mặt trời có thể làm tăng mức dopamine, nhưng điều quan trọng là phải lưu ý đến các nguyên tắc tiếp xúc với ánh nắng mặt trời để tránh tổn thương da.

10. Xem xét Thuốc bổ sung.

Cơ thể bạn cần một số vitamin và khoáng chất để tạo ra dopamine. Chúng bao gồm sắt, niacin, folate và vitamin B6.

Nếu cơ thể bạn thiếu một hoặc nhiều chất dinh dưỡng này, bạn có thể gặp khó khăn trong việc tạo ra đủ dopamine để đáp ứng nhu cầu của cơ thể.

Công việc máu có thể xác định xem bạn có thiếu bất kỳ chất dinh dưỡng nào trong số này hay không. Nếu vậy, bạn có thể bổ sung khi cần thiết để đưa cấp độ của mình trở lại.

Ngoài chế độ dinh dưỡng hợp lý, một số chất bổ sung khác có liên quan đến việc tăng mức dopamine, nhưng cho đến nay, nghiên cứu chỉ giới hạn ở các nghiên cứu trên động vật.

Những chất bổ sung này bao gồm magiê, vitamin D, curcumin, chiết xuất oregano và trà xanh. Tuy nhiên, vẫn cần nghiên cứu thêm ở người.

TÓM LƯỢC.

Có đủ lượng sắt, niacin, folate và vitamin B6 là rất quan trọng để sản xuất dopamine. Các nghiên cứu sơ bộ trên động vật cho thấy một số chất bổ sung cũng có thể giúp tăng mức dopamine, nhưng vẫn cần thêm nghiên cứu trên người.

Điểm mấu chốt.

Dopamine là một chất hóa học quan trọng trong não ảnh hưởng đến tâm trạng, cảm giác khen thưởng và động lực của bạn. Nó cũng giúp điều chỉnh các chuyển động của cơ thể.

Mức độ thường được cơ thể điều chỉnh tốt, nhưng bạn có thể thực hiện một số thay đổi về chế độ ăn uống và lối sống để tăng mức độ của mình một cách tự nhiên.

Một chế độ ăn uống cân bằng có chứa đầy đủ protein, vitamin và khoáng chất, men vi sinh và một lượng chất béo bão hòa vừa phải có thể giúp cơ thể sản xuất dopamine cần thiết.

Đối với những người mắc bệnh do thiếu dopamine, chẳng hạn như Parkinson’s, ăn các nguồn thực phẩm tự nhiên chứa L-dopa như đậu fava hoặc Mucuna mận có thể giúp khôi phục mức dopamine.

Lựa chọn lối sống cũng rất quan trọng. Ngủ đủ giấc, tập thể dục, nghe nhạc, thiền định và dành thời gian dưới ánh nắng mặt trời đều có thể làm tăng mức dopamine.

Nhìn chung, một chế độ ăn uống và lối sống cân bằng có thể giúp ích rất nhiều trong việc tăng cường sản xuất dopamine tự nhiên của cơ thể và giúp não của bạn hoạt động tốt nhất.

NUÔI DƯỠNG.

Hạnh phúc giúp bạn khỏe mạnh hơn như thế nào

“Hạnh phúc là ý nghĩa và mục đích của cuộc sống, là mục đích và kết thúc toàn bộ sự tồn tại của con người”.

Nhà triết học Hy Lạp cổ đại Aristotle đã nói những lời này hơn 2.000 năm trước, và chúng vẫn còn đúng cho đến ngày nay.

Hạnh phúc là một thuật ngữ rộng mô tả trải nghiệm của những cảm xúc tích cực, chẳng hạn như niềm vui, sự mãn nguyện và sự hài lòng.

Nghiên cứu mới nổi cho thấy rằng hạnh phúc hơn không chỉ khiến bạn cảm thấy tốt hơn mà còn thực sự mang lại nhiều lợi ích sức khỏe tiềm năng.

Bài viết này khám phá những cách mà hạnh phúc có thể giúp bạn khỏe mạnh hơn.

Thúc đẩy lối sống lành mạnh.

Sống vui vẻ thúc đẩy một loạt thói quen sống quan trọng đối với sức khỏe tổng thể. Những người hạnh phúc có xu hướng ăn chế độ ăn uống lành mạnh hơn, với lượng trái cây, rau và ngũ cốc nguyên hạt cao hơn

Một nghiên cứu trên 7,000 người trưởng thành nhận thấy rằng những người có sức khỏe tích cực có khả năng tiêu thụ trái cây tươi và rau quả cao hơn 47% so với những người kém tích cực hơn.

Chế độ ăn nhiều trái cây và rau quả luôn có liên quan đến một loạt các lợi ích sức khỏe, bao gồm giảm nguy cơ mắc bệnh tiểu đường, đột quỵ và bệnh tim.

Trong cùng một nghiên cứu trên 7.000 người trưởng thành, các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng những người có sức khỏe tích cực có khả năng hoạt động thể chất cao hơn 33%, với 10 giờ hoạt động thể chất trở lên mỗi tuần.

Hoạt động thể chất thường xuyên giúp xương chắc khỏe, tăng mức năng lượng, giảm lượng mỡ trong cơ thể và giảm huyết áp.

Hơn thế nữa, hạnh phúc hơn cũng có thể cải thiện thói quen và thực hành giấc ngủ, điều quan trọng đối với sự tập trung, năng suất, hiệu suất tập thể dục và duy trì cân nặng hợp lý (10 Nguồn tin cậy,

Một nghiên cứu trên 700 người lớn cho thấy các vấn đề về giấc ngủ, bao gồm khó ngủ và khó ngủ, cao hơn 47% ở những người báo cáo mức độ hạnh phúc tích cực thấp.

Điều đó nói rằng, một đánh giá năm 2016 về 44 nghiên cứu đã kết luận rằng, mặc dù dường như có mối liên hệ giữa hạnh phúc tích cực và kết quả giấc ngủ, nhưng vẫn cần nghiên cứu thêm từ các nghiên cứu được thiết kế tốt để xác nhận mối liên quan.

TÓM LƯỢC:

Hạnh phúc có thể giúp thúc đẩy lối sống lành mạnh. Các nghiên cứu cho thấy những người hạnh phúc hơn có xu hướng ăn uống lành mạnh hơn và tham gia vào các hoạt động thể chất.

Xuất hiện để tăng cường hệ thống miễn dịch.

Một hệ thống miễn dịch khỏe mạnh rất quan trọng đối với sức khỏe tổng thể. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng hạnh phúc hơn có thể giúp giữ cho hệ thống miễn dịch của bạn mạnh mẽ.

Điều này có thể giúp giảm nguy cơ bị cảm lạnh và nhiễm trùng ngực.

Một nghiên cứu trên 300 người khỏe mạnh đã xem xét nguy cơ bị cảm lạnh sau khi các cá nhân được tiêm một loại vi rút cảm lạnh thông thường qua thuốc nhỏ mũi.

Những người kém hạnh phúc nhất có nguy cơ mắc cảm lạnh thông thường cao hơn gần ba lần so với những người hạnh phúc hơn của họ.

Trong một nghiên cứu khác, các nhà nghiên cứu đã tiêm cho 81 sinh viên đại học một loại vắc xin chống lại bệnh viêm gan B, một loại virus tấn công gan. Những sinh viên hạnh phúc hơn có gần gấp đôi khả năng có phản ứng kháng thể cao, một dấu hiệu của hệ thống miễn dịch mạnh.

Tác động của hạnh phúc đối với hệ thống miễn dịch không được hiểu hoàn toàn.

Nó có thể là do tác động của hạnh phúc đến hoạt động của trục hạ đồi-tuyến yên-thượng thận (HPA), điều chỉnh hệ thống miễn dịch, nội tiết tố, tiêu hóa và mức độ căng thẳng của bạn.

Hơn nữa, những người hạnh phúc có nhiều khả năng tham gia vào các hành vi nâng cao sức khỏe đóng vai trò giữ cho hệ thống miễn dịch mạnh mẽ. Chúng bao gồm thói quen ăn uống lành mạnh và hoạt động thể chất thường xuyên.

TÓM LƯỢC:

Vui vẻ có thể giúp giữ cho hệ thống miễn dịch của bạn mạnh mẽ, có thể giúp bạn chống lại cảm lạnh thông thường và nhiễm trùng ngực.

Giúp chống lại căng thẳng.

Vui vẻ có thể giúp giảm mức độ căng thẳng.

Thông thường, căng thẳng quá mức sẽ làm tăng nồng độ cortisol, một loại hormone gây ra nhiều tác hại của căng thẳng, bao gồm rối loạn giấc ngủ, tăng cân, tiểu đường loại 2 và huyết áp cao.

Một số nghiên cứu chứng minh rằng mức độ cortisol có xu hướng thấp hơn khi mọi người hạnh phúc hơn.

Trên thực tế, một nghiên cứu trên 200 người trưởng thành đã giao cho những người tham gia một loạt các nhiệm vụ căng thẳng trong phòng thí nghiệm và phát hiện ra rằng mức cortisol ở những người hạnh phúc nhất thấp hơn 32% so với những người không hạnh phúc.

Những tác động này dường như vẫn tồn tại theo thời gian. Khi các nhà nghiên cứu theo dõi cùng một nhóm người trưởng thành ba năm sau đó, có sự khác biệt 20% về mức độ cortisol giữa những người hạnh phúc nhất và kém hạnh phúc nhất.

TÓM LƯỢC:

Căng thẳng làm tăng nồng độ hormone cortisol, có thể gây tăng cân, rối loạn giấc ngủ và cao huyết áp. Những người hạnh phúc có xu hướng sản xuất mức cortisol thấp hơn để đáp ứng với các tình huống căng thẳng ..

Có thể bảo vệ trái tim của bạn.

Hạnh phúc có thể bảo vệ tim bằng cách giảm huyết áp, một yếu tố nguy cơ chính gây bệnh tim.

Một nghiên cứu trên 6.500 người trên 65 tuổi đã phát hiện ra rằng hạnh phúc tích cực có liên quan đến việc giảm 9% nguy cơ huyết áp cao.

Hạnh phúc cũng có thể làm giảm nguy cơ mắc bệnh tim, nguyên nhân gây tử vong lớn nhất trên toàn thế giới.

Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng hạnh phúc có liên quan đến việc giảm 13–26% nguy cơ mắc bệnh tim.

Một trong số 1.500 người trưởng thành dài hạn nhận thấy rằng hạnh phúc giúp bảo vệ chống lại bệnh tim.

Hạnh phúc có liên quan đến nguy cơ giảm 22% trong thời gian nghiên cứu 10 năm, ngay cả sau khi các yếu tố nguy cơ đã được tính đến, chẳng hạn như tuổi tác, mức cholesterol và huyết áp.

Có vẻ như hạnh phúc cũng có thể giúp bảo vệ những người đã mắc bệnh tim. Một đánh giá có hệ thống về 30 nghiên cứu cho thấy rằng tình trạng hạnh phúc tích cực hơn ở những người trưởng thành mắc bệnh tim đã có kinh nghiệm làm giảm 11% nguy cơ tử vong.

Điều quan trọng cần lưu ý là một số tác động này có thể là do sự gia tăng các hành vi có lợi cho tim như hoạt động thể chất, tránh hút thuốc và thói quen ăn uống lành mạnh.

Điều đó nói rằng, không phải tất cả các nghiên cứu đều tìm thấy mối liên hệ giữa hạnh phúc và bệnh tim.

Trên thực tế, một nghiên cứu gần đây đã xem xét gần 1.500 cá nhân trong khoảng thời gian 12 năm không tìm thấy mối liên hệ nào giữa hạnh phúc tích cực và nguy cơ mắc bệnh tim.

Nghiên cứu chất lượng cao, được thiết kế tốt hơn nữa là cần thiết trong lĩnh vực này.

TÓM LƯỢC:

Hạnh phúc hơn có thể giúp giảm huyết áp, từ đó có thể làm giảm nguy cơ mắc bệnh tim. Tuy nhiên, cần phải nghiên cứu thêm.

Có thể kéo dài thời gian sống của bạn.

Hạnh phúc có thể giúp bạn sống lâu hơn.

Một nghiên cứu dài hạn được công bố vào năm 2015 đã xem xét ảnh hưởng của hạnh phúc đối với tỷ lệ sống sót ở 32.000 người.

Nguy cơ tử vong trong thời gian 30 năm nghiên cứu ở những người không hạnh phúc cao hơn 14% so với những người hạnh phúc hơn của họ.

Một đánh giá lớn của 70 nghiên cứu đã xem xét mối liên quan giữa hạnh phúc tích cực và tuổi thọ ở cả những người khỏe mạnh và những người có tình trạng sức khỏe từ trước, chẳng hạn như bệnh tim hoặc thận.

Hạnh phúc tích cực cao hơn được phát hiện có tác động thuận lợi đến khả năng sống sót, giảm 18% nguy cơ tử vong ở những người khỏe mạnh và 2% ở những người có bệnh từ trước.

Làm thế nào hạnh phúc có thể dẫn đến tuổi thọ cao hơn vẫn chưa được hiểu rõ.

Nó có thể được giải thích một phần là do sự gia tăng các hành vi có lợi giúp kéo dài thời gian sống sót, chẳng hạn như không hút thuốc, tham gia hoạt động thể chất, tuân thủ thuốc và thói quen và thực hành ngủ tốt.

TÓM LƯỢC:

Những người hạnh phúc hơn sống lâu hơn. Điều này có thể là do họ tham gia vào các hành vi tăng cường sức khỏe hơn, chẳng hạn như tập thể dục.

Có thể giúp giảm đau.

Viêm khớp là một tình trạng phổ biến liên quan đến tình trạng viêm và thoái hóa khớp. Nó gây ra các khớp đau và cứng, và thường xấu đi theo tuổi tác.

Một số nghiên cứu đã phát hiện ra rằng phúc lợi tích cực cao hơn có thể làm giảm đau và cứng liên quan đến tình trạng này.

Hạnh phúc cũng có thể cải thiện chức năng thể chất ở những người bị viêm khớp.

Một nghiên cứu trên 1.000 người bị viêm khớp gối cho thấy những người hạnh phúc hơn đi bộ thêm 711 bước mỗi ngày – nhiều hơn 8,5% so với những người kém hạnh phúc hơn.

Hạnh phúc cũng có thể giúp giảm đau trong các tình trạng khác. Một nghiên cứu ở gần 1.000 người đang hồi phục sau đột quỵ cho thấy những người hạnh phúc nhất có xếp hạng đau thấp hơn 13% sau ba tháng rời bệnh viện.

Các nhà nghiên cứu đã gợi ý rằng những người hạnh phúc có thể có xếp hạng mức độ đau thấp hơn vì cảm xúc tích cực của họ giúp mở rộng quan điểm, khuyến khích những suy nghĩ và ý tưởng mới.

Họ tin rằng điều này có thể giúp mọi người xây dựng các chiến lược đối phó hiệu quả để giảm nhận thức về nỗi đau của họ.

TÓM LƯỢC:

Hạnh phúc có thể làm giảm nhận thức về nỗi đau. Nó dường như đặc biệt hiệu quả trong các tình trạng đau mãn tính như viêm khớp.

Những Cách Hạnh Phúc Khác Có Thể Giúp Bạn Khỏe Mạnh Hơn.

Một số ít các nghiên cứu đã liên kết hạnh phúc với các lợi ích sức khỏe khác.

Mặc dù những phát hiện ban đầu này đầy hứa hẹn, nhưng chúng cần được hỗ trợ bởi các nghiên cứu sâu hơn để xác nhận các mối liên hệ.

Có thể làm giảm sự yếu ớt: Yếu ớt là một tình trạng đặc trưng bởi sự thiếu sức mạnh và khả năng giữ thăng bằng. Một nghiên cứu ở 1.500 người lớn tuổi cho thấy những người hạnh phúc nhất có nguy cơ ốm yếu thấp hơn 3% trong thời gian nghiên cứu 7 năm.

Có thể bảo vệ chống lại đột quỵ: Đột quỵ xảy ra khi có sự xáo trộn trong lưu lượng máu lên não. Một nghiên cứu ở người lớn tuổi cho thấy rằng chế độ sinh hoạt tích cực làm giảm nguy cơ đột quỵ xuống 26%.

TÓM LƯỢC:

Hạnh phúc có thể có một số lợi ích tiềm năng khác, bao gồm giảm nguy cơ ốm yếu và đột quỵ. Tuy nhiên, nghiên cứu sâu hơn là cần thiết để xác nhận điều này.

Cách để Gia tăng Hạnh phúc của Bạn.

Hạnh phúc không chỉ khiến bạn cảm thấy tốt hơn mà còn vô cùng có lợi cho sức khỏe của bạn.

Dưới đây là sáu cách đã được khoa học chứng minh để trở nên hạnh phúc hơn.

Bày tỏ lòng biết ơn: Bạn có thể gia tăng hạnh phúc bằng cách tập trung vào những điều bạn biết ơn. Một cách để thực hành lòng biết ơn là viết ra ba điều bạn biết ơn vào cuối mỗi ngày.

Vận động: Tập thể dục nhịp điệu, còn được gọi là tim mạch, là loại bài tập hiệu quả nhất để tăng cảm giác hạnh phúc. Đi bộ hoặc chơi quần vợt không chỉ tốt cho sức khỏe thể chất của bạn mà còn giúp cải thiện tâm trạng của bạn.

Nghỉ ngơi vào buổi tối: Thiếu ngủ có thể ảnh hưởng tiêu cực đến hạnh phúc của bạn. Nếu bạn phải vật lộn với việc khó ngủ hoặc ngủ không sâu giấc, hãy xem những mẹo sau để có một giấc ngủ ngon hơn.

Dành thời gian bên ngoài: Ra ngoài đi dạo trong công viên, hoặc làm bẩn tay trong vườn. Chỉ cần ít nhất là năm phút tập thể dục ngoài trời để cải thiện đáng kể tâm trạng của bạn.

Ngồi thiền: Thiền định thường xuyên có thể làm tăng cảm giác hạnh phúc và cũng mang lại nhiều lợi ích khác, bao gồm giảm căng thẳng và cải thiện giấc ngủ.

Ăn một chế độ ăn uống lành mạnh hơn: Các nghiên cứu chỉ ra rằng bạn càng ăn nhiều trái cây và rau quả, bạn càng hạnh phúc. Hơn nữa, ăn nhiều trái cây và rau quả cũng sẽ cải thiện sức khỏe của bạn về lâu dài.

TÓM LƯỢC:

Có một số cách để tăng hạnh phúc của bạn. Vận động, bày tỏ lòng biết ơn và ăn trái cây và thực vật đều là những cách tuyệt vời để giúp cải thiện tâm trạng của bạn.

Điểm mấu chốt.

Các bằng chứng khoa học cho thấy rằng hạnh phúc có thể mang lại những lợi ích lớn cho sức khỏe của bạn.

Đối với những người mới bắt đầu, hạnh phúc thúc đẩy một lối sống lành mạnh. Nó cũng có thể giúp chống lại căng thẳng, tăng cường hệ miễn dịch, bảo vệ tim và giảm đau.

Hơn nữa, nó thậm chí có thể làm tăng tuổi thọ của bạn.

Mặc dù cần phải nghiên cứu thêm để hiểu cách thức hoạt động của những tác động này, không có lý do gì bạn không thể bắt đầu ưu tiên hạnh phúc của mình ngay bây giờ.

Tập trung vào những điều khiến bạn hạnh phúc không chỉ cải thiện cuộc sống của bạn mà còn có thể giúp kéo dài thời gian.

======================

Đỗ Thị Thuấn

HỢP NHẤT – HOÀN HẢO – AN NHIÊN
TỪ BI – GIÁC NGỘ – PHƯỚC DUYÊN – ÊM ĐỀM 

TỐT LÀNH – TÔN KÍNH – THƯƠNG YÊU
CHÂN PHÚC – CHIẾU SÁNG – MÃN VIÊN – TINH THẦN

SIÊU VIỆT – HY VỌNG – KHÔN NGOAN
HÒA THUẬN – GIÚP ĐỠ – LẠC QUAN –  CHÂN THÀNH 
TRÍ TUỆ – THÔNG CẢM – THỨ THA

TIN CẬY – HỶ XẢ –  VỊ THA – CAN TRƯỜNG 

TƯỞNG NIỆM NHÀ VĂN NHẬT TIẾN

Tưởng niệm nhà văn Nhật Tiến với nhà báo Đinh Quang Anh Thái và nhà báo Đỗ Quý Toàn
Tưởng Niệm Nhà văn Nhật Tiến với Nhà văn – Nhà thơ Trương Anh Thụy


Tưởng niệm Nhà văn Nhật Tiến với Nhà báo Đinh Quang Anh Thái và Xướng Ngôn Viên Nhã Lan 
Tưởng Niệm Nhà văn Nhật Tiến với Nhà báo Mặc Lâm và Nhà báo Đinh Quang Anh Thái
Tưởng Niệm Nhà văn Nhật Tiến với Nhà văn Ngô Thế Vinh.
Tưởng niệm Nhà văn Nhật Tiến I Hội Đồng Trung Ương Hướng Đạo Việt Nam 
Tưởng Niệm Nhà văn Nhật Tiến với Nhà thơ Trần Mộng Tú và Nhà báo Đinh Quang Anh Thái
Tưởng niệm Nhà văn Nhật Tiến I Giáo sư Lê Tinh Thông & Ông Nguyễn Đức Luận
Tưởng Niệm Nhà văn Nhật Tiến qua lời chia sẻ của độc giả NGUYỄN ĐÌNH BỔN và THẬN NHIÊN
Tưởng Niệm Nhà văn Nhật Tiến với Nhà văn Ngô Thị Kim Cúc và Nhà báo Đinh Quang Anh Thái
Tưởng niệm nhà văn Nhật Tiến với nhà báo Đinh Quang Anh Thái và nhà văn Trịnh Y Thư
Tưởng niệm Nhà văn Nhật Tiến với Nhà báo Đinh Quang Anh Thái và Nhà văn Tống Văn Công
Tưởng Niệm Nhà văn Nhật Tiến qua lá thư tâm tình của Nhà văn Lê Tất Điều
Tưởng niệm Nhà văn Nhật Tiến với Nhà văn-Luật sư Nguyễn Hoàng Duyên và Nhà báo Đinh Quang Anh Thái
Tưởng Niệm Nhà văn Nhật Tiến I Điếu văn của ỦY BAN BÁO NGUY GIÚP NGƯỜI VƯỢT BIỂN

Tưởng niệm Nhà văn Nhật Tiến I Nhà văn – Nhà thơ Chu Tất Tiến

NHẬT TIẾN VÀ “CẶP MẮT CHUỒN CHUỒN”

Chu Tất Tiến.
Trong muôn triệu loài sinh vật mà Thượng Đế tạo dựng, chỉ có một loài duy nhất mà Ngài tặng cho đôi mắt có 314 góc cạnh là chuồn chuồn. Từ các góc cạnh này mà chuồn chuồn có thể nhìn trước, nhìn sau, bên trái, bên phải nhanh như nhau, vì thế mà trẻ em rất khó bắt được chuồn chuồn, trừ khi ngón tay của trẻ em di chuyển thật chậm. Chuồn chuồn cũng có thể nhìn thấy một điều mà con người không nhìn thấy được: Tia cực tím Ultra Violet. Thật ra, cũng vì sự thiếu nhậy cảm này của con người, mà nhân loại mới tồn tại, bởi vì, giả dụ mà con người có cặp mắt tinh tường như thế, thì sẽ không thể nào có Tình Yêu giữa loài người với nhau, mà nếu không có Tình Yêu, thì nhân loại sẽ bị tận diệt nhanh chóng như trong một khu rừng nhỏ hẹp, đầy thú dữ khát mồi. Nếu có cặp mắt nhìn khắp mọi góc cạnh như mắt chuồn chuồn, loài người sẽ thấy rõ tất cả những hành động, tư cách xấu xa của đồng loại, sẽ nhìn thấy những lưỡi dao đâm sau lưng, sẽ thấy người tình và bạn bè phản bội, thấy anh chị em đối sử sai trái với nhau, và thấy cả những thiếu sót của ngay các bậc làm cha, mẹ, làm Thầy, Cô.. và như thế thì làm sao có Tình Yêu nẩy nở được? Nếu không có những Tình Yêu đơn sơ, Tình Yêu thuở học trò, Tình Yêu Lãng mạn, những Tình Yêu hy sinh hết cho người mình yêu, mà chỉ có Lý Trí, thì con người là những thú dữ đáng sợ nhất trên hành tinh trái đất, vì con người thông minh hơn muôn vật.
Tuy nhiên, để bù lại sự thua kém con chuồn chuồn, Thượng Đế lại tặng khả năng nhận thức để hiểu tường tận những điều mà người khác không hiểu được, và khả năng truyền đạt các nhận thức ấy cho một số nhân vật đặc biệt là các nhà khoa học, các triết gia, và một số nhà văn đặc biệt, được sự khâm phục và ngưỡng mộ của mọi người, không phân biệt mầu da, sắc tộc. Thực tế, những nhà văn nổi tiếng thế giới không nhiều, và một khi đã nổi tiếng, thì bất cứ ai, da vàng, da đen, da đỏ, da trắng, nếu đã đọc thì đều hiểu biết và ngưỡng mộ như nhau. Các tác giả quốc tế như Leon Tolstoy, Charles Dickens, William Faulkner, Ernest Hemingway, Mark Twain, George Elliot, Charlotte Bronte, John Steinbeck, Alexandre Dumas, Miguel De Cervantes… là thần tượng của tất cả mọi dân tộc. Riêng với Việt Nam, các nhà văn Nhất Linh và Tự Lực Văn Đoàn, Doãn Quốc Sĩ, Mai Thảo, Sơn Nam, Hồ Biểu Chánh, Duyên Anh, Vũ Trọng Phụng, Võ Phiến, Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam, Duy Lam, Nguyễn Thị Vinh… cùng với gần 100 nhà văn khác đã là những ngôi sao sáng trên nền trời văn học Việt Nam. Mỗi vị đều có phong cách riêng, nhưng chỉ có một Nhật Tiến là người đã đem đến cho Văn Học và Văn Hóa Việt Nam một phương cách văn chương mới, như đôi mắt chuồn chuồn, nhìn thấy suốt các ngõ ngách trong tâm hồn con người, nhìn xa, nhìn gần, nhìn chéo, nhìn thẳng vào sự thật đối diện, cho dù là sự thật đau lòng, sự thật phũ phàng, tối tăm và bốc mùi rơm rạ.

Người mình, đa số, khi nhìn về khía cạnh văn chương của Nhật Tiến, thường thì chỉ nhận ra một Thềm Hoang, Giải Thưởng Văn Chương Toàn Quốc 1962, với những nhân vật đời thường, không vương giả, không đài các, mà chỉ là những con người có cặp mắt đặc biệt, nhìn thấy những điều mà người khác không thấy. Ngay chương đầu, Nhật Tiến đã cho độc giả biết sự lợi hại của cặp mắt, cho dù là cặp mắt mù: Tiếng đàn rời rạc bật lên giữa những ngón tay của bác Tốn. Bác ấy đứng ở đằng sau. Không cần nhìn, Ích cũng biết hai con mắt của bác lim dim dưới ánh đèn sáng. Có thể bây giờ bác đang nhếch miệng cười vì tiếng đàn của bác đột nhiên căng lên phừn phựt. Những lúc hứng chí, bác hay bật dây đàn như thế. Bật xong thì bác cười, nụ cười vu vơ bao giờ cũng chỉ nhếch ra ở nửa miệng, làm bờ môi hơi trễ xuống, đồng thời gò má của bác dúm lại thành mấy nếp nhăn. Ích đứng ở đằng trước. Nó đang hát. Tiếng hát của nó rơi lạc lõng vào tiếng ồn ào của cửa tiệm. Những lúc ấy, đầu óc của Ích hay vấn vương ở trên ngọn đèn ống có những con thiêu thân đang nhảy múa. Nhiều khi chúng nó bay chấp chới quanh mấy sợi dây đèn hoặc trước cái mồm đỏ hỏn của những con thạch sùng. Mỗi lần mấy chú này chớp được một con thì Ích lấy làm khoái, cái khoái như lúc người ta ném vào mũ của bác Tốn một đồng bạc. Mắt Ích nhìn đi vẩn vơ như vậy mà miệng nó vẫn hát, vì thế có lúc chính Ích cũng không hiểu mình đang hát cho mọi người nghe bài gì. Điều ấy làm cái giọng đang trơn tru của nó tự nhiên tắc lại.

Nhật Tiến đã nhắc nhở người đọc về những giác quan khác với sự nhìn, chẳng hạn như “ngửi” mà không “nhìn”: Bây giờ thì nó lại nhìn ra xung quanh. Mọi người có vẻ không nhớ rằng họ vừa được thưởng thức xong một bản nhạc. Những cái thìa vẫn múa lên trong từng bát phở bốc khói. Mùi nước dùng toả ra ngào ngạt. Ích hếch mũi lên cho cái hương vị thơm tho ấy thấm vào tận ruột. Nó nghĩ đến mấy khoanh hành tây trắng nõn xếp gọn gàng bên cạnh những lá hành hoa xanh biếc, rồi lại có cả tương ớt đỏ rưới lên những miếng thịt óng ánh mỡ vàng nữa. Tự nhiên nước bọt ứa ra chân răng làm Ích phải nuốt vào ừng ực. Bàn tay xương xẩu của bác Tốn chợt sờ soạng lên đầu Ích. Nó biết ý dẫn bác ta đi chầm chậm. Một tay nó nắm vào vạt áo tây vàng của bác, một tay nó chìa cái mũ dạ xuống từng bàn, không nói. Có một vài đồng bạc rơi vào lòng mũ. Ích nhón lên ấn vào túi bác. Bác Tốn mỉm cười gật gật. Sợi dây đàn bật lên rất khẽ dưới mấy ngón tay. Âm thanh rung nhè nhẹ và ngân dài trong bầu gỗ. Chợt thằng Ích đứng lại. Bác sờ tay lên đầu nó dò dẫm, thì ra nó thoáng trông thấy một lưng bát phở. Bát phở không có khói nhưng vẫn còn có thịt. Ích úp cái mũ lên đầu và bưng bát phở lên môi. Tiếng sợi phở kêu lách chách trên đầu lưỡi của nó. Mùi nước dùng thơm ngậy đưa thoang thoảng qua mũi bác Tốn, làm bác hếch mặt lên cười: “Phở hả?”

Và cứ thế, Nhật Tiến đã dẫn người đọc đi vào một không gian hoàn toàn khác lạ, một không gian mà con người dùng đủ mọi giác quan: “nghe, nhìn, ngửi, sờ, nếm”, nhưng trên hết, ông đã cho sử dụng thêm “giác quan thứ 6”, không trực tiếp với đối tượng mà hiểu được đối tượng. Điều đó làm cho văn chương Nhật Tiến y hệt như đôi mắt chuồn chuồn, ngó trái ngó phải, ngó trên ngó dưới, ngó trước ngó sau. Nhất là qua cuốn sách mà ông đặt tên là “Tiểu Thuyết Kịch: NGƯỜI KÉO MÀN”. Đọc cuốn này, độc giả thấy như mình cũng như con chuồn chuồn, nhìn thấy mọi ngõ ngách trong tâm hồn của con người, từ anh đạo diễn, có tài mà có tật, chỉ biết khoái cảm của mình mà không hề biết trách nhiệm, đến nhân vật Mạnh Thường Quân cũng chỉ nhìn thấy Tiền và sức mạnh của đồng tiền, đến các vai diễn kịch mà tâm lý bị chia làm hai, xung đột nhau dữ dội, vừa muốn nhập vào vai diễn, lời nói, vừa bị chi phối bởi tình yêu, sự bất mãn, thèm khát một cuộc sống mới và lòng tự trọng… Con người, trong bi kịch của cuộc đời, từ thằng bé mồ côi, đến người giầu sang, kẻ được gọi là Trí Thức, dưới mắt nhìn của nhà văn Nhật Tiến, chỉ là những con rối của Thượng Đế. Ngài ở tuốt trên cao, cầm những sợi dây nối với tay chân của con người mà giật lên, thả xuống, “con rối người” khó làm chủ được mình, nếu không tỉnh thức với những cám dỗ mê muội của nhân gian.

Nhật Tiến, như thế, không chỉ là một nhà văn viết tiểu thuyết, truyện dài, truyện ngắn, biên khảo cho cả trẻ em lẫn người lớn, mà là một nhà soạn kịch tài ba, một đạo diễn khổng lồ có cặp mắt chuồn chuồn nhìn thấy 341 góc cạnh khác nhau. Ông từ giã cõi đời vào thời đại khủng hoảng của nhân loại: Thời Covid-19, chỉ mấy ngày sau, hiền thê của ông, Nhà Văn – Dịch Giả Đỗ Phương Khanh, lìa cõi thế. Cả hai nhà văn, chắc chắn, đang phiêu du ở một chốn mà con người không còn là những con rối bị cột giây dính chùm vào tiền, tình, tù, tội, và đã để lại cho nhân gian, một gia tài quý giá nhất trong mọi điều quý giá: Văn Chương Chân Thực!
Chu Tất Tiến, 17 tháng 9 năm 2020

Nước Mỹ cần thay đổi để giảm thiểu bất công và bạo lực

Phung Nguyen phung4@hotmail.com
Mon, Sep 7 at 7:39 PM

Nhiều người Mỹ không có kiến thức thường lầm lẫn chính sách Dân Chủ Xã Hội như các nước Tây Âu, Anh , Cananda v.v…. với chế độ Độc tài Xã Hội chủ nghĩa cộng sản. Ngay cả những người Việt đang sống tại Tây Ấu với những phúc lợi xã hội nhưng vì thiếu kiến thức nên không nhận ra được những phúc lợi ấy từ đâu. Họ chỉ nhìn cái giàu sang bề ngoài của HK mà thèm thuồng, ca tụng nhưng không biết thực chất cái giá phải trả khi gặp chuyện không may. Ngay cả những lão mít già chưa từng đóng góp tiền thuế an sinh xã hội vẫn được hưởng những phúc lợi xã hội đó là sản phẩm từng phần của chủ nghĩa Dân Chủ Xã Hội. Obamacare là một bước tiến kế tiếp để đem đến phúc lợi toàn dân. Cái gì cũng có cái giá của nó! Trong mùa bầu cử này đảng CH đang đánh lận con đen với thuyết âm mưu tạo sự sợ hãi là nước Mỹ sẽ trở thành một nước CS nếu đảng DC nắm chính quyền!

Phung Nguyen

From: My Le happymyle.vn2002@gmail.com
Subject: Mỹ có ‘nguy cơ’ biến thành một nước Xã Hội Chủ Nghĩa như Việt Nam hay không?

https://www.baocalitoday.com/hoa-ky/lieu-my-co-nguy-co-bien-thanh-mot-nuoc-xa-hoi-chu-nghia-nhu-viet-nam-hay-khong.html
Liệu Mỹ có ‘nguy cơ’ biến thành một nước Xã Hội Chủ Nghĩa như Việt Nam hay không?

Tóm lược

Những chính sách thay đổi của đảng Dân Chủ Mỹ mang tính xã hội đã bị đảng Cộng Hòa cáo buộc là đi theo hướng Xã hội Chủ nghĩa Marxist-Leninist.
Nền Dân chủ Xã hội (Social Democracy) là mô hình chính trị kinh tế tại các quốc gia Bắc Âu, nơi người dân có chỉ số hạnh phúc cao nhất thế giới. Mô hình này nhân bản và khác xa Xã hội Chủ nghĩa (Socialism) với nền kinh tế mở nhưng do nhà nước độc tài định đoạt, mà cộng sản Việt Nam và Trung Quốc hiện nay là hai chế độ điển hình.
Nước Mỹ là cái nôi của mô hình Dân chủ Tư bản, và đang bị áp lực thay đổi hướng về nền Dân chủ Xã hội giống như các quốc gia Bắc Âu.

Nước Mỹ cần thay đổi để giảm thiểu bất công và bạo lực; những thay đổi về hướng phục vụ xã hội này không thể biến Mỹ thành một quốc gia giống CSVN. Có ít nhất 6 yếu tố của guồng máy vận hành và 4 yếu tố từ bản chất của người dân Mỹ sẽ giúp bảo vệ nền dân chủ trên đường tiến đến những thay đổi tốt đẹp cần thiết.

Chưa bao giờ mà dư luận Mỹ lại rộ lên những bàn thảo về Xã hội Chủ nghĩa (XHCN) nhiều như bây giờ. Thành phần hữu khuynh – còn gọi là bảo thủ, thì bày tỏ quan tâm, lo ngại về chủ nghĩa này. Trong khi đó thành phần tả khuynh – còn gọi là cấp tiến, nhất là giới trẻ Mỹ, thì vận động cho những thay đổi chính sách để làm giảm bớt sự bất bình đẳng kinh tế và phúc lợi trong xã hội – những thay đổi mà mà các nhà bảo thủ cho là tả khuynh, và báo động là nếu không ngăn chặn thì Mỹ sẽ biến thành xã hội chủ nghĩa, tức độc tài cộng sản. Mối lo ngại này lại càng mạnh mẽ hơn nữa trong cộng đồng người Việt tị nạn cộng sản, và có lẽ ở cả các cộng đồng tị nạn cộng sản khác như Cuba, Bắc Hàn, Lào, Cam Bốt.

Chúng ta hãy cùng tìm hiểu những thay đổi do khuynh hướng cấp tiến (progressive) tại Mỹ chủ trương là gì mà lại tạo ra sự lo lắng tới như vậy? Những thay đổi này liệu có nguy cơ biến nước Mỹ thành một quốc gia theo chế độ độc tài cộng sản hay không?

Khuynh hướng xã hội tại Mỹ có giống XHCN ở Việt Nam hay Trung Quốc?

Nước Mỹ đang rộ lên quan tâm về XHCN vì năm nay là năm bầu cử lớn. Trong bối cảnh của cuộc tổng tuyển cử 2020, hai chính đảng Cộng Hòa và Dân Chủ – vốn vẫn thay phiên nhau cầm chịch nền chính trị Mỹ trong 244 năm qua – đang ra sức vận động cử tri bằng những chính sách “ích quốc, lợi dân” của đảng mình, đồng thời tấn công đảng đối thủ. Đây là cung cách vận động tranh cử rất bình thường trong một quốc gia dân chủ, miễn là không sử dụng những cách thức gian tà và phi pháp để tác hại lên nhau. Ai nói hay, vận động giỏi là được người dân tín nhiệm bầu vào ghế tổng thống và lưỡng viện Quốc Hội.

Khuynh hướng điều hành đất nước của hai chính đảng này có nhiều điểm khác nhau căn bản, nhưng điều khiến đảng Dân Chủ bị “phiên dịch” là tiến về hướng XNCN trong kỳ tranh cử này là bởi các chính sách cải thiện xã hội như: chăm sóc y tế cho mọi người (healthcare for all), giáo dục miễn phí, kiểm soát súng, tăng cường luật giới hạn khí thải để chống biến đổi khí hậu hầu bảo vệ trái đất, tăng thuế lên người giầu và các đại công ty, tăng lương tối thiểu và các chính sách an sinh xã hội cho người nghèo, gia tăng bình đẳng giới tính/giàu nghèo/chủng tộc, ủng hộ LGBTQ (người đồng tính, lưỡng tính và chuyển giới), mở rộng chính sách di dân … Các chủ trương này không có gì mới lạ, nhưng năm nay gia tăng cường độ trong bối cảnh mà đảng Dân Chủ cho là “nguy cơ” vì các chính sách hiện tại của đảng Cộng Hòa.

Những chủ trương thay đổi của đảng Dân Chủ đã bị đảng Cộng Hòa hay giới bảo thủ lên án là đi ngược với Chủ nghĩa Tư Bản – vốn quan niệm giới hạn sự can dự của chính quyền vào các hoạt động kinh tế của thị trường; tự do kinh doanh có nghĩa là không bị những luật lệ về khí thải ràng buộc; động lực quyền lợi cá nhân chứ không phải tập thể là nền tảng cho mọi hoạt động phát triển xã hội; tự do sở hữu súng, đánh thuế thấp, giới hạn các chính sách an sinh xã hội do chính phủ cấp dưỡng …

Đảng Dân Chủ cho rằng chủ nghĩa tư bản dựa trên động lực lợi nhuận cá nhân sẽ đưa đến lòng tham vô đáy và gia tăng các bất công xã hội, như hiện tượng chênh lệch giàu nghèo thái quá hiện nay, và giới giàu có đã dùng tiền để mua chuộc, thao túng guồng máy chính trị cũng như các chính sách hầu làm lợi cho một thiểu số. Do đó cần có sự điều tiết cần thiết qua các chính sách xã hội nhân bản, nâng đỡ những thành phần nghèo và thiệt thòi để đạt tới công bằng xã hội như mô hình chính trị tại các quốc gia Bắc Âu (Thụy Điển, Đan Mạch, Na Uy, Phần Lan …) và một số quốc gia Tây phương như Anh, Úc, Pháp, Đức, Canada, New Zealand hiện nay.

Chủ trương đặt trọng tâm phúc lợi chung của xã hội lên hàng đầu trong các chính sách điều hành đất nước là một ý niệm nhân bản và lý tưởng, do đó không phải là ý niệm xã hội chủ nghĩa theo khuynh hướng cộng sản của Marxist-Leninist.

Sự khác biệt giữa nền ‘Dân chủ Xã hội’ và ‘Chủ nghĩa Xã hội Độc tài’

(Social Democracy versus Aưtocratic Socialism)

Chủ nghĩa xã hội của Karl Marx, Friedrich Engels, Vladimir Lenin, và Josheph Stalin nhắm tới công bằng xã hội qua một thế giới cộng sản không tưởng (utopian society), trong đó mọi phương tiện và thành quả sản xuất đều được chia đều cho mọi người, và hệ thống quản trị nền kinh tế này nằm trong tay một thiểu số thống trị bằng bạo lực không do người dân bầu lên như trong các thể chế dân chủ. Với quan niệm đấu tranh giai cấp và chủ trương cứu cánh biện minh cho phương tiện, chế độ cộng sản đã sử dụng bạo lực để cướp chính quyền bằng những cuộc cách mạng đẫm máu và duy trì quyền lực với bàn tay sắt.

Chủ thuyết cộng sản phi lý đã thất bại từ căn bản khi tước đi tính chất đa dạng, đa nguyên của xã hội và xóa bỏ động lực cá nhân để mưu cầu hạnh phúc theo ý thích và khả năng riêng. Với cấu trúc và nguyên tắc điều hành độc tài, độc đảng, bưng bít thông tin, phi nhân bản và dựa trên bạo lực, các chế độ cộng sản đã reo rắc kinh hoàng khắp thế giới trong thế kỷ 20 – không những hoàn toàn đi ngược lại lý tưởng phục vụ xã hội, mà còn hiện nguyên hình là một chế độ khủng bố người dân và tiêu diệt con người. Sách Đen về Chủ Nghĩa Cộng Sảnước tính các chế độ cộng sản đã giết hại tới 100 triệu người trong thế kỷ 20, và còn gây ra biết bao đau khổ, hệ lụy cho đến ngày nay.

Hầu hết các nạn nhân cộng sản đều dị ứng và khinh ghét chủ nghĩa xã hội. Ngoài các di dân tị nạn cộng sản tại Mỹ, các thành phần quần chúng khác cũng dị ứng với XHCN vì đơn giản cho rằng chủ thuyết này đi ngược lại chủ nghĩa tư bản – được hiểu nôm na là kinh tế thị trường và là nền tảng phát triển kinh tế của Mỹ. Các cuộc thăm dò cho thấy đa số người dân Mỹ (55%) có ác cảm với CNXH. Một số người trong đảng Cộng Hòa lợi dụng tâm lý ghét CNXH để xuyên tạc đảng Dân Chủ là ủng hộ cho XHCN, và đã tạo được “con ngáo ộp” là “Nước Mỹ đang có nguy cơ bị cộng sản hóa.”

Thực ra, chủ trương bình đẳng hóa phúc lợi xã hội trong các thể chế dân chủ nhân bản qua các chính sách xã hội khác xa CNXH kiểu cộng sản như chế độ hiện hành tại Việt Nam. Mô hình dân chủ xã hội (DCXH – social democracy) tại Bắc Âu có một nền kinh tế tự do nhưng coi trọng tinh thần tập thể, do chính phủ dân chủ được người dân bầu ra bằng phương thức bầu cử tự do, công bằng. Thể chế DCXH coi dân làm trọng, tôn trọng nhân quyền, cổ xúy sự bình đẳng, xóa bỏ bất công, và đặt trọng tâm các chính sách vào mục tiêu phục vụ phúc lợi của người dân. Thể chế dân chủ xã hội bác bỏ chủ nghĩa cộng sản kiểu Marxist-Leninist.

Do đó, chúng ta cần phân định rằng khuynh hướng xã hội trong một nền dân chủ như tại Mỹ khác xa với xã hội chủ nghĩa kiểu Marxist-Leninist.
Các chế độ độc tài cộng sản cũng thường hay lợi dụng chữ dân chủ cho mục tiêu tuyên truyền giả trá của họ, mà người Việt Nam đã hiểu quá rõ
qua kinh nghiệm xương máu của mình. Các chữ dùng, do đó, cần phải được tìm hiểu kỹ qua việc làm của những người chủ trương, thay vì chỉ do
ấn tượng về chữ dùng mà đánh giá, thì mới không bị rơi vào bẫy của các chính trị gia mị dân.
[Mỹ đã từng kinh qua giai đoạn khủng bố của McCarthyism, hay Red Scare, do Thượng nghị sĩ Joseph McCarthy chủ xướng bằng cách cáo buộc các đối thủ chính trị là cộng sản, và tạo ra một làn sóng nghi ngờ, bắt bớ, điều tra, chia rẽ, sợ hãi, khủng bố bao trùm lên đất nước trong nhiều năm dài (1946 đến 1954) mà dư âm vẫn còn vang đến tận ngày nay].

Các nước Bắc Âu và những nền dân chủ khác theo khuynh hướng dân chủ xã hội đã tạo ra được một xã hội hài hòa giữa mục tiêu phát triển kinh tế dựa trên động lực lợi nhuận cá nhân, và mục tiêu bình đẳng xã hội qua những chính sách phục vụ lợi ích chung, cùng với một nền dân chủ vững mạnh. Xã hội của họ được ổn định và mức hạnh phúc của người dân được đánh giá cao hơn cả quốc gia giầu có nhất thế giới là Hoa Kỳ. Người dân tại các quốc gia này được chăm sóc, nâng đỡ qua nhiều chương trình xã hội: y tế và giáo dục miễn phí, trợ cấp nuôi dạy con trẻ, được dịp nghỉ lễ nhiều hơn, được quyền theo đuổi ước mơ của mình … Đời sống của họ bình yên, thanh thản và hạnh phúc hơn, tuy không giầu có bằng, nhưng không bị căng thẳng như tại Mỹ.

Do đó, khuynh hướng xã hội tại Mỹ chỉ là một điều chỉnh hợp lý sau quá trình thử nghiệm và phát triển mô hình chủ nghĩa tư bản dân chủ
(democratic capitalism). Nhưng với những thay đổi có khuynh hướng cải thiện đời sống xã hội, liệu Mỹ có thể biến dạng thành XHCN theo kiểu
cộng sản như một số người Việt Nam tị nạn lo sợ hay không?

Những khuynh hướng phục vụ xã hội và bảo vệ môi trường không thể nào biến Mỹ trở thành một quốc gia độc tài cộng sản. Tại sao?
Một nền dân chủ đích thực và vững mạnh như Mỹ có những yếu tố nền tảng sau đây:
Tam quyền phân lập: tách rời Hành pháp, Tư pháp và Lập pháp để tránh quyền lực tập trung vào tay một thiểu số, đồng thời các cơ chế này cũng kiểm soát lẫn nhau.
Đa đảng và bầu cử tự do định kỳ để chọn người đại diện xứng đáng có nhiệm kỳ giới hạn.
Tự do ngôn luận, tự do truyền thông và tự do Internet, tức Đệ Tứ Quyền và Đệ Ngũ Quyền, để cân bằng quyền lực chính phủ.
Xã hội dân sự bao gồm các tổ chức phi chính phủ (NGO) và các cơ quan thiện nguyện – cũng là một lực đối trọng với chính quyền, giữ vai trò vừa đóng góp bổ sung vừa kiểm soát chính quyền.
Nền luật pháp nghiêm minh đặt trên nền tảng công bằng và trong sáng.
Chính phủ vận hành minh bạch trong phạm vi luật định. Không ai được quyền ngồi trên pháp luật.
Các chế độ độc tài hoặc cộng sản hoàn toàn thiếu vắng sáu yếu tố căn bản này, do đó dù có theo đuổi kinh tế thị trường (như CSVN và CS Trung Quốc) thì xã hội vẫn đầy rẫy những bất công, tham nhũng, phân cực giàu nghèo, phi nhân quyền, thiếu hạnh phúc, đầy bạo lực, người dân sống trong nơm nớp lo sợ và bất ổn, và đất nước khó phát triển đúng với tiềm năng của dân tộc.

Điều đáng sợ tại Hoa Kỳ hiện nay là sự thao túng quyền lực của một nhóm người cấu kết với nhau vì quyền lực và quyền lợi cá nhân/nhóm/hay tập đoàn, sẵn sàng tấn công vào các định chế và nguyên tắc cơ bản nêu trên khiến nền dân chủ bị xói mòn, tạo sự chia rẽ trầm trọng trong quần chúng, nhiễu loạn sự thật bằng tin giả và thuyết âm mưu, tấn công vào các giá trị nền tảng kể cả các giá trị luân lý lẫn truyền thống (như Hoa Kỳ là một xứ sở của di dân thì nay chống di dân), hủy hoại niềm tin vào các định chế và phương cách vận hành dân chủ, kể cả tấn công vào những cuộc bầu cử và quyền bỏ phiếu của cử tri.

Nhưng sức mạnh của Hoa Kỳ để bảo vệ nền dân chủ chính là tinh thần tranh đấu mạnh mẽ của người dân – một di sản của di dân đã từng phải vượt thoát những cảnh ngộ đau thương, khó khăn từ cố quốc của mình; và truyền thống tranh đấu của những người Mỹ da đen cho quyền làm người và quyền bình đẳng với mọi công dân Mỹ. Các yếu tố phóng khoáng, chủ động và linh động thay đổi để thích nghi của một xã hội mở cũng sẽ giúp Hoa Kỳ sửa sai những hiện tượng tiêu cực hiện nay để bảo vệ nền dân chủ và đưa đất nước tiến lên.

Các phong trào tranh đấu gần đây với hàng triệu người tham gia khắp nước (chống xách nhiễu tình dục, chống kỳ thị chủng tộc, chống bạo lực súng đạn – đặc biệt những vụ bắn giết hàng loạt tại các trường học, nhà thờ, nơi công cộng) đã thể hiện bản chất tranh đấu mạnh mẽ của người dân Mỹ và sức mạnh quần chúng (people’s power) rất cần thiết trong các cuộc đấu tranh bất bạo động.

Kết luận:

Trên hành trình đi tìm một mô hình phù hợp nhất để điều hành xã hội và chung sống, nhân loại đã trải qua nhiều thử nghiệm, có khi đầy đau thương và đẫm máu. Điều dứt khoát ở giai đoạn hiện nay (2020) là những chế độ độc tài (độc đảng, hoặc cá nhân trị, tập đoàn trị hay gia đình trị) không thể đem đến hạnh phúc cho người dân; và những quốc gia tự do, dân chủ đã phát triển hữu hiệu hơn một cách vượt trội.

Trong những nền dân chủ này, nền kinh tế thị trường cần phải được điều chỉnh để nâng đỡ mọi thành phần xã hội trong nhu cầu và mục tiêu phục vụ cho hạnh phúc chung. Giữa hai khuynh hướng cực tả (communism) và cực hữu (capitalism) của các chủ thuyết kinh tế, một quốc gia được tự do điều chỉnh vì phúc lợi của toàn dân sẽ tự động hướng về trung tâm giữa hai cực và tìm ra cho mình một điểm phù hợp nhất cho dân tộc và đất nước.

Nước Mỹ đang chuyển mình thay đổi để tốt đẹp hơn, nhất là một khi đã kinh qua thảm họa của đại dịch COVID-19, của chia rẽ trầm trọng, bạo lực (cảnh sát và súng đạn), kỳ thị chủng tộc và giới tính, phân cực giầu nghèo, nhiễu loạn thông tin, nhũng lạm quyền lực, sa sút uy tín với đồng minh và quốc tế. Tất cả đã và đang là những thử thách lớn cho hành trình đi tìm một mô hình sinh hoạt phù hợp nhất cho quốc gia đa chủng-đa văn hóa đầy phức tạp này, nơi đã từng là mẫu mực phát triển cho thế giới và là vùng đất hứa của hằng trăm triệu di dân trốn thoát từ những vùng đất đau khổ trên trái đất. Sức mạnh đấu tranh của di dân và nạn nhân của các thể chế bạo lực, nô lệ sẽ luôn là sức mạnh quật khởi để bảo vệ mảnh đất hứa này.

Anna Thục Quyên

Tháng 9, 2020

Để Mất Trung Hoa Năm 1949 Sai Lầm lớn Nhất Của Tổng Thống Truman

Trọng Đạt

  Thế Chiến Thứ Hai đang diễn ra, Hoa Kỳ đứng ngoài vòng. Khi bắt đầu Thế Chiến Nhật có 10 Hàng không mẫu hạm lớn và tối tân nhất thời đó. Ngày 7/12/1941 Nhật đem Hạm đội đánh Trân Châu Cảng gây thiệt hại nặng và kinh khiếp cho Mỹ: 20 tầu chiến bị chìm, hư hại, gần 200 máy bay bị hủy hoại, 2400 phi công, thủy thủ bị thiệt mạng.

  Hai ngày sau Mỹ tham gia cuộc Thế Chiến, đưa 80% lực lượng sang Châu Âu chỉ để 20% tại Á Châu vì Đức Quốc Xã nguy hiểm hơn. Hoa Kỳ đưa quân sang Châu Âu vì cái thế “môi hở răng lạnh” chứ không phải đi làm nghĩa vụ quốc tế.

  Sang năm 1942, Đồng minh bắt đầu thắng thế, Hải quân Nhật thua to tại trận thủy chiến Midway, Đức Quốc Xã đầu hàng tại Stalingrad, hai trận này đã được xếp trong số 10 trận đánh lớn nhất Thế giới vì nó đã thay đổ khúc quành cuộc chiến. Năm 1944 quân Đức thất bại trên khắp mặt trận miền Đông, tháng 6/1944 Mỹ-Anh đổ bộ vào Normandie, tháng 2/1945 đã vào tới miền Tây nước Đức.

  Chiến tranh Âu Châu gần kết thúc Roosevelt, Staline, Churchill họp tại Yalta (từ 4 tới 11/2/1945) để bàn về chia chác ảnh hưởng (1). Tháng 4-1945 Đại Tướng Mỹ George Patton đã tiến tới biên giới Tiệp Khắc nhưng phải dừng lại vì Tiệp đã được nhường cho Nga (2). Người Mỹ nhường Đông Âu cho Nga để bớt tốn xương máu, cũng là để nhờ Nga phụ giúp đánh quân Nhật tại Á châu vì lực lượng địch còn khoảng bốn, năm triệu, trù tính đánh từ một năm rưỡi tới hai năm (3). Trước Thế chiến thứ hai chỉ một mình nước Nga theo Cộng Sản, Staline chủ trương tiến lên chủ nghĩa xã hội trong phạm vi nước Nga trái với Trosky muốn tiến lên vô sản hóa toàn thế giới. Khi Mỹ nhường Đông Âu cho Nga họ đã vớ được một lô đồng chí để bành trướng thế lực. Các nước tư bản dân chủ Tiệp, Ba Lan, Lỗ Ma Ni, Hung Gia Lợi, Bảo Gia Lợi …đã chung lưng đấu cật cùng Tây phương chiến đấu chống phát xít Đức đến khi chiến thắng đã bị Hoa Kỳ bán đứng cho Nga.

   Cuộc nội chiến Trung Hoa

  Tổng Thống Roosevelt (Dân Chủ) mất ngày 12/4/1945, Phó TT Truman lên thay

   Các hạm đội Mỹ, Anh từ Âu châu chuyển về Thái Bình Dương để kết thúc mặt trận châu Á, Sô viết chuyển quân bằng đường bộ từ Tây sang Đông như đã thỏa thuận tại Yalta. Ngày 6 và 9 tháng 8-1945 TT Truman ra lệnh ném bom nguyên tử xuống hai thành phố lớn ở Nhật, ngay sau đó một triệu rưỡi quân Nga tấn công lộ quân Quân Đông Nhật tại Mãn Châu. Sự thực Sô Viết chỉ nhẩy vào ăn có sau khi Mỹ đã ném bom nguyên tử, khoảng một triệu quân Nhật đầu hàng. Người Nga lấy kho vũ khí to lớn của Nhật kể cả xe tăng thiết giáp giao cho Mao Trạch Đông, giáo vào tay giặc.

  Năm 1946 Tổng thống Truman cử Tướng George Marshall sang Tầu hòa giải Mao-Tưởng, Mỹ hy vọng Quốc-Cộng sống chung hòa bình. Người Mỹ vẫn lạc quan không hay biết gì về âm mưu thâm độc của Staline, ông ta lừa gạt Mỹ từ đầu chí cuối. Mao vận động Nga yêu cầu Anh, Mỹ bắt ép Tưởng Giới Thạch ký đàm phán (4). Tưởng-Mao thảo luận một tháng (cuối 8/1945 tới 10/10/1945) rồi ký hòa ước tháng 1/1946 nhưng chỉ được 6 tháng thì nội chiến nổ ra. Lúc này theo tài liệu CS, Mao chỉ khiểm soát 1/4 đất đai và 1/3 dân số.    

  Tưởng Giới Thạch đưa 1 triệu 6 trăm ngàn quân từ miền Nam lên Mãn Châu, Mỹ giúp máy bay chuyên chở. Tưởng thắng được những tháng đầu rồi dần dần mất ưu thế, năm 1948 Mao bắt đầu thắng thế. Quốc Dân Đảng chia rẽ lại cách xa căn cứ tiếp liệu tại miền Trung nước Tầu, đất đai bị Cộng quân chiếm. Mao vừa khủng bố và dụ dỗ người dân để đưa họ ra trận tuyến gian khổ. Quốc dân đảng cũng mất lòng dân vì dùng bạo lực nên họ đã bỏ theo CS (5). Quốc dân Đảng (QDĐ) mất hơn một triệu quân tại đây và bắt đầu thất thế.

  Từ 12/9 tới 12/11/1948 diễn ra những trận đánh lớn, Quốc Dân Đảng ở thế thủ, dần dần xa cách Mỹ. Cộng quân chiếm được nhiều thành phố lớn Hoa Bắc, họ chiếm Mãn Châu hoàn toàn. Mao tiêu diệt được 144 sư đoàn thiện chiến của Tưởng. Cuối năm 1948, đầu năm 1949 bà Tống Mỹ Linh, phu nhân Tưởng Giới Thạch sang Mỹ xin viện trợ nhưng bị bác bỏ. Tháng 9-1948 Cộng quân chiếm tỉnh Sơn Đông, tháng 4-1949 Cộng quân vượt sông Dương Tử chiếm Nam Kinh Thủ đô Quốc Dân Đảng Trung Hoa, họ tiến về Hoa Nam.

  Ngày 1 tháng 10 năm 1949, Mao Trạch Đông tuyên bố thành lập Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, thủ đô là Bắc Bình, nay đổi là Bắc Kinh. Cuối năm 1949 Tưởng Giới Thạch và khoảng 2 triệu người Quốc Dân Đảng chạy khỏi Đại lục tới đảo Đài Loan.

  Dư luận Mỹ chỉ trích, lên án Tổng thống Truman đã để mất Trung Hoa vào tay Cộng Sản. Thượng nghị sĩ Joe McCarthy cho rằng việc ngăn chận CS Tầu cần phải viện trợ nhiều hơn và có lẽ phải dùng cả không lực. Người ta bắt đầu hỏi ai đã làm mất Trung Hoa? tỷ lệ ủng hộ Truman từ 70% xuống còn 35%. Bộ trưởng ngoại giao của Truman bị coi là thằng hèn, Tướng George Marshall, bộ trưởng ngoại giao tiền nhiệm bị coi là tên phản bội.

  Lyndon Johnson hồi đó là Thượng nghị sĩ tiểu bang Texas (Jan/1951-Jan/1953) cho rằng Truman đã không tròn trách nhiệm để mất Trung Hoa, khi Johnson lên làm Tổng thống (1964) ông đã cố không đi vào vết xe đổ của quá khứ.

  Cuộc Cách mạng Trung Hoa chỉ là sự nối dài quyền lực của Sô Viết. Dean Rusk nói Cách mạng Trung Hoa không phải của người Tầu mà là Made in Moscow. Nhiều người Mỹ cho rằng CS đang tiến bước mạnh và nếu không ngăn chận chúng sẽ tràn ngập thế giới (6).  Các tài liệu về cuộc chiến vĩ đại này cho biết:

  Năm 1946-1947 Tưởng có hơn 4 triệu quân chủ lực – Mao có khoảng 1 triệu 3 trăm ngàn quân chủ lực và 2 triệu du kích,

  Giữa năm 1948 Tưởng còn 3 triệu rưỡi – Mao có 2 triệu 8,

  Tháng 6-1949 Tưởng còn 1 triệu rưỡi – Mao có 4 triệu

  Có dư luận chê Quốc Dân Đảng Trung Hoa có một lực lượng hùng hậu, được Mỹ viện trợ  4 tỷ đô la quân sự nhưng lại bị Cộng quân yếu hơn đánh bại. Người ta cũng nêu lý do Quốc Dân Đảng mất lòng dân, tàn ác trong khi đối phương tuyên truyền khiến đạo quân ngày càng lớn mạnh chuyển bại thành thắng.

  Cũng có tài liệu nói sau Thế chiến thứ hai, cán cân quân sự nghiêng về phía Cộng Sản Tầu. Chủ lực quân của họ tăng lên 1 triệu 2 và 2 triệu du kích. Vùng kiểm soát của họ có 19 căn cứ chiếm 1/4 lãnh thổ Trung quốc và 1/3 dân số gồm nhiều tỉnh thành quan trọng. Ngoài ra Nga Sô đã trao cho CS Tầu kho vũ khí to lớn lấy được của Nhật cũng như đã giúp họ nhiều quân viện, CS cũng được Nga giao cho miền Đông Bắc Trung Hoa (7)

  Quốc Dân Đảng có ưu thế quân sự, họ chống quân Nhật hồi Thế chiến thứ hai đã bị mất nhiều đơn vị tinh nhuệ trong những trận đánh lớn khi ấy CS Tầu ít thiệt hại, họ ít đụng chạm Nhật. Tưởng Giới Thạch cho Mãn Châu là một vị trí chiến lược quan trọng cần phải chiếm giữ và đã đưa 1 triệu 6 trăm ngàn quân lên đánh CS được Mỹ giúp cho máy bay chuyển quân. Tưởng Giới Thạch thua trận mùa thu 1948 đó là một khúc quành quan trọng trong cuộc chiến tranh Quốc-Cộng , QDĐ chia rẽ và vì xa trung tâm tiếp liệu ở miền Trung nên đã thảm bại (8). Một phần vì tại Hoa Bắc, Mãn Châu địch mạnh, một phần QDĐ bị suy yếu vì Thế chiến thứ hai, sự sai lầm của Tưởng cho chuyển quân lên vùng xa xôi nên đã mất hơn một triệu quân. Địch tuyển được nhiều quân, đánh biển người, một chiến thuật man rợ và lợi hại khiến QDĐ ngày càng thua nhiều trận lớn.

  Tướng George Marshall nói không có dấu hiệu gì cho thấy Nga Sô viện trợ quân sự cho Mao, đó là điều ngây thơ lạc quan, khinh địch vốn dĩ của người Mỹ. Cuộc chiến Quốc-Cộng kéo dàì mấy năm, sôi động nhất là những năm 1947, 1948, 1949, hai bên đánh bằng cấp quân đoàn, lộ quân có khi lên tới hàng trăm sư đoàn. Nếu không có viện trợ của Sô Viết, Tầu Cộng lấy đạn dược tiếp liệu ở đâu để tham gia những trận đánh long trời lở đất trong cuộc nội chiến vĩ đại này?

   Cũng y như trong cuộc chiến VN, các nhà học giả Mỹ nghiên cứu chiến tranh VN thường ít nói tới việc Quốc Hội Dân Chủ cắt giảm viện trợ 50% mỗi năm từ giữa 1973, họ chỉ chê bai chính phủ VNCH thối nát tham nhũng, sai lầm trong chiến thuật. Quốc Hội Mỹ cắt giảm viện trợ xương tủy, tháng 4/1975 quân đội VNCH không còn gì để chiến đấu. Người Mỹ chỉ trích QDĐ Trung Hoa và VNCH tham nhũng để mất nước mà không bao giờ nhìn nhận trách nhiệm của họ.

  Chiếm được Trung Hoa, dân số chiếm một phần tư (1/4) thế giới hồi đó, cán cân giữa Thế giới Tự Do và khối CS lệch hẳn đi. Trước Thế chiến Thứ Hai chỉ có một mình nước Nga theo CS, dần dần trước sự sai lầm và dễ dãi của Hoa Kỳ, Staline chiếm được một giải đất rộng mênh mông từ Âu sang Á.

  Sau này năm 1985 cựu Tổng thống Nixon nói (9) )“Sô Viết không phải gửi quân nhưng đã thống trị được 9 nước kể từ 1974”. Nixon cảm phục Nga không đem quân sang, chỉ đứng ngoài giật giây mà đã chiếm được nhiều nước. Cuộc chiến tranh Quốc – Cộng 1946-1949 cho thấy Nga không đem quân vào, trong khi Mỹ đã đưa vào 50,000 quân mà vẫn thất bại.

  Hoa Kỳ nhường Đông Âu cho Nga năm 1945 để nhờ họ đánh quân Nhật là một lỗi lầm tai hại, vừa mất Đông Âu rồi mất cả Trung Hoa. Người Mỹ bỏ rơi Tưởng Giới Thạch vì vai trò chống Nhật của ông đã hết. Họ bỏ Trung Hoa cũng vì không thấy tầm quan trọng của vấn đề, chưa nhìn ra hậu quả lớn lao ngay sau đó là những cuộc chiến đẫm máu do CS gây ra.

   Năm 1950, cuộc chiến Cao Ly và Việt Nam

  Ngày 5-12-1949 Mao đã ra lệnh sửa chữa các sân bay, chuẩn bị đổ bộ chiếm Đài Loan.  Ngày 5-1-1950 Truman tàn nhẫn tuyên bố thừa nhận Đài Loan là lãnh thổ Trung Quốc, ông ta nói sẽ không can dự vào cuộc tranh chấp, sẽ không viện trợ quân sự cho Tưởng, có nghĩa là công khai tuyên bố bỏ Đài Loan (10)

  Mỹ công kích Tưởng và các Tướng lãnh QDĐ bất tài, tham nhũng làm mất Trung Hoa để tự bào chữa cho họ. Tháng 8-1949, Nga có bom nguyên tử không còn sợ Mỹ, CS giúp Bắc Triều Tiên (Cao Ly) vượt vĩ tuyến 38 xâm lăng Nam Triều Tiên. Nga, Tầu bây giờ công khai đương đầu với Mỹ. Cuộc chiến bùng nổ khiến Truman hốt hoảng đưa quân vào miền Nam Triều Tiên can thiệp dưới danh nghĩa Liên Hiệp Quốc. Mỹ tuyên bố bảo vệ Đài Loan khiến Đài Loan thoát chết trong gang tấc.

  Tướng Navarre, cựu Tư lệnh Đông Dương nhận định    

“Qua kinh nghiệm đau thương Trung Hoa và nhất là Triều Tiên, người Mỹ mới nhận ra mối nguy Cộng Sản bành trướng tại Đông Nam Á, nhưng họ biết trễ mất 5 năm (11)                                                                

  Người Mỹ biết tới sự nguy hiểm của CS trễ mất 5 năm vì không đề phòng Staline

  Hoa Kỳ từ 1950 bắt đầu được nếm mùi hậu quả của việc bỏ rơi Trung Hoa: đồng thời với chiến tranh Triều Tiên, từ 1950 Trung Cộng tiến sát biên giới Việt Hoa viện trợ, huấn luyện cho Việt Minh và thành lập nhiều sư đoàn chính qui (304 và 308, 312, 316, 320…) những năm 1950 và 1951, Việt Minh ngày càng lớn mạnh.

  Chiến tranh Triều Tiên

  Tháng 6/1950 Bắc Triều Tiên đưa 135,400 quân cùng 150 xe tăng, gần 200 máy bay vượt vĩ tuyến 38 xâm lăng Nam Triều Tiên…  Nam Triều Tiên yếu, thua chạy. Ngày 28-6, Bắc quân chiếm Hán Thành (Seoul).

  TT Truman lệnh cho Tướng McArthur chở súng đạn giúp Nam Hàn. Ông không nghe cố vần đề nghị oanh tạc Bắc Hàn, các nước Tây phương đồng ý với Mỹ gửi quân. Truman ra lệnh cho Hải, Không quân Mỹ đánh vượt qua vĩ tuyến 38 nhưng không vào địa phận của Nga, Tầu.

 Tháng 8-1950 quân Nam Hàn và Mỹ mới đến tiếp cứu rút về một góc tại bán đảo quanh tỉnh Pusan. Không quân Mỹ oanh kích mỗi ngày 40 phi vụ yểm trợ bộ binh, chống thiết giáp. Oanh tạc cơ chiến lược B-29 từ căn Nhật sang yểm trợ, phá hủy hầu hết đường xe lửa, cầu, kho hàng tại Bắc Hàn. Thượng tuần tháng 9, quân đội Liên Hiệp Quốc và Nam Hàn đông và mạnh hơn Bắc Hàn nhiều theo tỷ lệ 180 ngàn so với 100 ngàn.

  Mỹ bắt đầu phản công, đổ bộ tại Inchon và tiến về Bắc, lực lượng gồm Quân đoàn 10 (70 ngàn lính) có sự yểm trợ của 8,600 quân Nam Hàn. Tướng McArthur chiếm lại Seoul nhanh chóng. Quân Bắc Hàn bị chia cắt vội rút về Bắc, quân Liên Hiệp Quốc truy đuổi quân Bắc Hàn qua vĩ tuyến 38, Mỹ thừa thế tiến lên để chiếm luôn Bắc Hàn.     

  Ngày 4-1-1951 quân Trung Cộng và Bắc Hàn lại chiếm Seoul khiến Mỹ phải rút, Tướng Walker chết vì tai nạn, Tướng Ridway lên thay. Tình thế nghiêm trọng, McArthur dự tính xử dụng bom nguyên tử đối với Trung Cộng

   Ngày 16-3-1953, Lộ quân 8 chiếm lại Seoul lần thứ 4 trong một năm, thành phố tan nát không còn gì, Tướng McArthur bị TT Truman cách chức ngày 14-5-1951: công khai đòi mở rộng chiến tranh và xử dụng bom nguyên tử. Ridway thay thế McArthur, tập hợp quân sĩ để phản công.

  Khi cuộc chiến mới bắt đầu hai bên càn qua, quét lại các phần đất, nay mặt trận đã được định vị trí, hai bên đã bắt đầu thương thuyết. Họ đàm phán tại Kaesong ngày 10-7-1951, cả hai phía đều vừa đánh vừa đàm.

  Ngày 29-11-1952 TT Eisenhower (Cộng Hòa) mới đắc cử hứa sẽ đem lại hòa bình, ông đi Triều Tiên tìm giải pháp. Liên Hiệp Quốc chấp nhận đề nghị của Ấn Độ hai bên đình chiến. Ngưng bắn được thực hiện ngày 27-7-1953 tại vùng giới tuyến gần Vĩ tuyến thứ 38 và một vùng phi quân sự Demilitarized zone (DMZ) được thiết lập quanh vĩ tuyến cho tới nay vẫn được giữ nguyên. Cho tới nay không có Hiệp định nào được ký kết.

  Bản tin CBS news cho biết con số của Ngũ Giác Đài (12) tại Triều Tiên 1950-1953, Mỹ có 36, 516 người lính tử trận.

   Chiến tranh Việt Nam

  Người Mỹ tránh can thiệp Trung Hoa những năm 1947, 48… vì sợ sa lầy nhưng sau đó họ đã bị sa lầy vì chiến tranh  Triều Tiên và sau Triều Tiên là cuộc chiến VN lớn và tàn khốc, lâu dài, tối tân gấp 10 lần cuộc chiến Triều Tiên.

  Năm 1950 Trung Cộng giúp Việt Minh thành lập năm sư đoàn chính qui: 304, 318, 312, 316, 320, sau đó sư đoàn 351 vũ khí nặng. Việt Minh nay công khai đánh Pháp bằng những đơn vị lớn. Cuối tháng 7-1953 Triều Tiên đình chiến, Trung Cộng viện trợ cho VM tăng vọt hơn trước để đánh Điện Biên Phủ. Mỹ cũng tăng viện trợ cho Pháp, năm 1954 Mỹ đã gánh 78% chiến phí (13). Việt Minh đưa gần hết các sư đoàn chính qui của họ vào trận đánh lịch sử này, tổng cộng 63,000 người gấp 4 lần Pháp (12 tiểu đoàn và 5 tiểu đoàn nhẩy dù) (14). Tháng 3/1954 Tình hình quân sự ĐBP ngày một xấu, phi trường bị pháo kích hư hại, sau ngày 26-3-1954, khu lòng chảo chỉ còn tiếp tế tăng viện bằng thả dù quân lính cũng như lương thực, đạn dược, số phận của ĐBP đã được quyết định rồi.

  Pháp và Mỹ đều thấy nguy cơ ĐBP sẽ thất thủ. Từ cuối tháng 3, Tòa Bạch Ốc đã nghiên cứu kế hoạch cứu nguy ĐBP bằng oanh tạc ồ ạt với khoảng gần 100 oanh tạc cơ hạng nặng B-29, mỗi chiếc mang 9 tấn bom cùng với 400 máy bay chiến đấu hộ tống. Kế hoạch lấy mật danh Kên Kên

  TT Eisenhower muốn hỏi ý kiến Quốc hội vì rút kinh nghiệm chính phủ Truman tham chiến tại Triều Tiên không đưa ra Quốc hội đã bị chỉ trích. Kế hoạch này được các sử gia Bernard Fall và Philippe Devillers tường thuật lại thập niên 60 (15).     

  Ngày thứ bẩy 3-4-1954, tám vị Đại diện Quốc hội được mời tới Bộ ngoại giao để hội thảo bí mật với các vị Đại diện Hành pháp. Thượng nghị sĩ Lyndon Johnson (Texas) phát biểu đòi phải lập Liên Minh quân sự, các vị Đại diện Quốc hội khác đồng ý với Johnson nên người ta coi như ông đóng vai chính trong việc ngăn cản chiến dịch cứu nguy bằng oanh tạc trong khi tình hình ĐBP vô cùng nguy khốn không có thì giờ lập liên minh quân sự.

  Sáng 23-4 Ngoại trưởng Pháp Bidault đưa cho Ngoại trưởng Mỹ Dulles thư của Navarre mới gửi, ĐBP sắp sụp đổ, muốn ngăn chận tai họa đó chỉ còn cách cho oanh tạc ồ ạt, nước Mỹ có thể xét lại kế hoạch Kên Kên được không?   

  Bi kịch cuối cùng là cuộc họp của TT Eisenhower, Đô đốc Radford TTMT, một số viên chức cao cấp ngày 29-4 tại Hoa Thịnh Đốn, họ duyệt lại toàn bộ tình hình một lần nữa. Giới quân sự chỉ có Đô đốc TTMT Radford vẫn ủng hộ hoàn toàn dù là can thiệp đơn phương (không cần Quốc Hội) để cứu ĐBP. Tư lệnh Hải quân, Đô đốc Carney và Tướng Twining, TMT Không quân không nhiệt tâm với kế hoạch này. Tướng Ridway, TMT quân đội Mỹ chống đối hoàn toàn kế hoạch, cuối cùng TT Eisenhower quyết định không giúp Pháp.  ĐBP thất thủ ngày 7-5-1954.   

  Hậu quả của Việc Hoa Kỳ không thực hiện được kế hoạch Kên Kên đã ám ảnh theo đuổi chính phủ Eisenhower một cách kỳ lạ ngay cả sau khi ngoại trưởng Dulles qua đời năm 1959 (16). Người Mỹ hối tiếc đã không thực hiện chiến dịch Kên Kên để cho Việt Minh, phía CS thắng lớn, ĐBP đã làm rung động cả thế giới, nó thay đổi cả một khúc quành lịch sử.

  Trong phần kết luận cuốn ĐBP, GS Bernard Fall cho rằng Tây phương (Anh-Mỹ) tránh can thiệp vào Đông Dương năm 1954 mà sau này họ phải can thiệp năm 1967 (VNCH). Nếu ĐBP không bị thất thủ năm 1954 có lẽ lịch sử VN sẽ ít phức tạp hơn (17) và gần đây hai nhà sử gia Logevall, Ted Morgan cũng đồng quan điểm trong hai cuốn sách lớn viết về ĐBP và cuộc chiến Đông Dương lần thứ I

  Bernard Fall nói

  Ở đây ĐBP không phải chỉ là thất trận của Pháp mà cả của Mỹ.  (18)

  Hoa Kỳ đã bỏ lỡ cơ hội tiêu diệt chủ lực quân địch, để 10 năm sau vào năm 1964, 65 đạo quân đó lớn mạnh và người Mỹ phải đương đầu với một cuộc chiến vô cùng đẫm máu. Thượng nghị sĩ Johnson đã trở thành Tổng Thống Mỹ, ông phải gánh chịu hậu quả của chính ông, 10 năm trước (1954) Johnson đã ngăn cản chiến dịch Kên Kên.

  Mỹ sợ sa lầy tại ĐBP và cuối cùng họ phải tốn kém 141 tỷ đô la (19) và hơn 58,000 người lính tử trận. Thượng Nghị Sĩ Lyndon Johnson và TT Eisenhower là hai người chịu trách nhiệm nặng nề nhất về sự sai lầm này. Nếu thực hiện kế hoạch Kên Kên chưa chắc đã mất miền Bắc, chưa chắc đã có Hiệp Định Geneve và cuộc di cư vĩ đại.       

  Chiến tranh Việt Nam sang thập niên 60, 70 lớn và tàn phá hai miền lâu dài và nhiều hơn Triều tiên gấp 10 lần, số bom đạn được ném tại Việt Nam và Đông Dương từ thập niên 60 nhiều hơn số bom ném tại Âu Châu thời Đệ Nhị Thế Chiến. Trận oanh tạc Linebacker từ tháng 5 tới tháng 9-1972 tại Vùng I và trận oanh tạc Linebacker II cuối năm 1972 tại Hà Nội, Hải Phòng đã xử dụng mỗi trận khoảng 200 B-52, tức một nửa số B-52 của Mỹ. Riêng trận oanh tạc cuối năm 1972 tại Bắc Việt trong 11 ngày đêm được coi là lớn nhất thế giới kể từ sau Thế Chiến Thứ Hai.

  CSBV đưa vào trận Mùa hè đỏ lửa 14 sư đoàn và 26 trung đoàn độc lập, và 300 xe tăng, phía VNCH có 13 sư đoàn và 15 liên đoàn Biệt động quân. Trận tấn công Sài Gòn tháng 4-1975, CSBV đã đưa vào đây khoảng 15 sư đoàn (tương đương 5 quân đoàn) và trên 10 trung đoàn độc lập, tổng cộng 20 sư đoàn. Phía VNCH có 13 sư đoàn nhưng bị cạn kiệt về tiếp liệu đạn dược

  Năm 1972, TT Nixon tìm cách ra khỏi cuộc chiến không lối thoát, ông thành công trong việc hòa với Trung Cộng để tìm hòa bình cho VN. Tháng 2/1972 TT Nixon sang Tầu, cái bắt tay giữa Mao Trạch Đông và Richard Nixon ít ra cũng đã làm cho nước Mỹ và cả Đông Nam Á một nền hòa bình cho tới nay đã được nửa thế kỷ. Nhiều người Việt quốc gia lên án Nixon hòa với Tầu Cộng để rút bỏ miền Nam, nhưng ông không có thực quyền để làm vậy. TT Nixon vẫn đứng sát TT Thiệu thành một phòng tuyến chống CS (20), nhưng người dân Mỹ, Quốc Hội (Dân Chủ) muốn ký Hiệp Định để chấm dứt sự can thiệp một cách có danh dự, nguyên nhân cuộc chiến nay không còn nữa (21)

   Ngày 7-11-1972, Nixon đại thắng với số phiếu cao nhất từ xưa đến nay: 520 phiếu Cử tri đoàn (96% số phiếu), hơn đối thủ McGovern 18 triệu phiếu Phổ thông, nhưng đối lập Dân chủ vẫn giữ ưu thế Lưỡng viện: Hạ Viện 56%, Thượng viện 57%. Họ kết hợp với Truyền thông và Phản chiến nên rất mạnh, Nixon không có quyền gì mấy.

   Kết Luận     

  Các vị chức sắc Quốc Hội muốn TT Nixon phải ký sớm Hiệp Định Ba lê nếu không họ sẽ ra luật chấm dứt chiến tranh đem quân về nước để đổi tù binh (22). Ngày 2-1973 Hạ Viện Dân Chủ bầu nội bộ tỷ lệ 154/75 cắt hết viện trợ Đông Dương để đổi lấy tù binh tại Hà Nội và rút hết quân, khi lên Thượng Viện tỷ lệ 30/12. Dân Chủ đe dọa VNCH

  Sáu tháng sau Hiệp Định Paris 27-1-1973, Quốc Hội (Dân Chủ) cắt giảm viện trợ VNCH mỗi năm 50%. Ngày 8/8/1974 Nixon từ chức để khỏi bị Quốc Hội truất phế vì vụ Watergete. Tới cuối tháng 4/1975, quân dội VNCH chẳng còn gì để tiếp tục cuộc chiến.

  Năm 1975 họ vứt bỏ Đông Dương và bây giờ cũng chẳng còn gì để vứt bỏ.

  Khi bỏ rơi Quốc Dân Đảng Trung Hoa, TT Truman không nghĩ tới hậu quả tàn khốc của nó ngay sau đó và còn kéo dài tới tận ngày hôm nay.   

  So sánh Tổng sản lượng Mỹ-Hoa từ 1970 tới nay ta thấy Hoa Lục tiến rất nhanh từ thời TT Clinton, nhất là thời TT Obama họ đi hia bẩy dặm.

  Năm 1970 TSL Mỹ là 1,075 tỷ. TSL Trung cộng  89 tỷ

  Năm 1980 TSL Mỹ  2,862  tỷ. TSL TC lên 305 tỷ

  Năm 1990 TSL Mỹ 5,979 tỷ,   TSL TC lên 398 tỷ

  Năm 2000 TSL Mỹ 10,284 tỷ, TSL TC lên 1,214 tỷ

  Năm 2010 TSL Mỹ 14,964 tỷ, TSL TC lên 6,066 tỷ

  Năm 2015 TSL Mỹ 18,036 tỷ, TSL TC lên 11,158 tỷ

  Năm 2019 TSL Mỹ 21,439 tỷ, TSL TC lên 14,140 tỷ

(GDP in the United States and leaders; List of countries by largest historical GDP)

Trung Cộng làm gia công cho các nước phát triển, nhờ cái đống thịt nên giá thành hàng hóa rẻ họ thu được rất nhiều ngoại tệ.     

Tiền nhiều họ tăng cường Ngân sách Quốc Phòng

Từ 1992 tới  2002 Ngân sách quốc phòng Hoa Lục tăng khiêm tốn từ 7 tỷ tới 20 tỷ, nhưng 10 năm sau NSQP của họ tăng vọt hơn 5 lần (23).

 Năm 2002 tới 2012 NSQP tăng từ 20 tỷ tới 107 tỷ. Trung Cộng càng phồn thịnh về kinh tế lại càng tăng cường quân sự khiến Mỹ, các nước Đông nam Á lo ngại. Những năm gần đây thời Tập Cận Bình họ gia tăng NSQP với tỷ lệ cao: Năm 2014 NSQP là 132 tỷ, năm sau 2015 lên 141 tỷ, năm 2016 lên 147 tỷ, năm 2018 lên 175 tỷ, 2019 tăng 224 tỷ, nay 2020 tăng  237 tỷ (Mỹ nay 750 tỷ)

Ngày 28/5/1993 TT Bill Clinton ký Executive order khiến nước Mỹ mất 10 triệu jobs (xin coi How Bill Clinton sent manufacturing jobs to China) và GDP Trung Cộng tăng nhanh vùn vụt.

TT Trump chống Tầu từ nhiều năm trước. Ông đã viết sách nhắc nhở mối nguy của Hoa Lục. Một bài trích trong cuốn sách của Donald Trump đã đăng trên truyền thông cho thấy chủ trương chính sách chống Tầu của ông: Mỹ sẽ không để mất việc làm vì Trung Cộng, ta cần hành động.

Mặc dù những sai lầm của quá khứ nhưng việc ngăn chận sự bành trướng quân sự của Hoa Lục và sự cướp đoạt công việc của Mỹ nay vẫn chưa muộn.

Trọng Đạt

Cước chú

(1) Arthur Conte, Yalta Ou Le Partage Du monde, viết năm 1974.

(2) Lịch Sử Thế Chiến Thứ Hai (Histoire de La Seconde Guerre Mondiale)

(3) Năm 1957 C.V Gheorghiu viết Les Sacrifies du Danube, thể hiện nỗi uất hận của những nước Đông Âu trong vùng Danube: … đã bị Hoa Kỳ bán cho Sô Viết

(4) Quốc Cộng Đàm Phán, phim lịch sử Hồng Kông quay thập niên 80 kể lại giai đoạn này

(5) La Guerre civil en chine, Geographie.blog le monde.fr

(6) Communists Win China’s War, Macrohistoory and World Time Line, Fsmitha.com

(7) Chinese civil war, Wikipedia

(8) Chinese Communist Revolution, Wikipedia

(9) Richard Nixon, No More Vietnams trang 214

(10) https://nationalinterest.org/blog/buzz/history-question-why-did-china-never-invade-taiwan-96271

(11) Henri Navarre, Agonie de l’Indochine trang 27

(12) United States military casualties of war Wikipedia

(13)The Pentagon Papers Volum 1, Chapter 2.

(14) Quân sử 4, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa trong giai đọan hình thành 1946-1955, Bộ Tổng Tham Mưu VNCH 1972 , trang 160

(15) Bernard Fall, Hell In A Very Small Place, The Siege of Dien Bien Phu;

Philippe Devillers: End of a War, Indochina, 1954

Gần đây, Giáo sư Fredrik Logevall và ký giả Ted Morgan đã đề cập lại đề tài này trong hai tác phẩm lớn của họ: Fredrik Logevall: Embers Of War, The Fall Of An Empire And The Making of America’s Vietnam, 2012; Ted Morgam: The Valley Of Death, The Tragedy at Dien Bien Phu That Led America In to The Vietnam, 2010.

(16) Bernard Fall, Hell In A Very Small Place trang 313

(17) Bernard Fall, Hell In A Very Small Place trang 462

(18) Hell In A Very Small Place trang 461.

(19) New york Times- US spent $141-Billion in Vietnam in 14 years

(20) Larry Berman: No Peace No Honor, Nixon, Kissinger and Betrayal in Vietnam, trang 199

(21) Sách nói trên trang 200

(22) Sách kể trên trang 200: Legislation to terminate the war

(23) Wikipedia: Military budget of China  

Những Kinh Nghiệm Về Kỳ Thị Chủng Tộc Của Tôi Tại Hoa Kỳ

By Carolee Giaouyen Tran

Vietnamese translation by Trinh Do

Như nhiều người Việt Nam khác đến Hoa Kỳ vào năm 1975, cuộc sống của gia đình tôi ở đây có một sự bắt đầu rất khiêm tốn.  Tôi chỉ mới 8 tuổi lúc đó.  Một tuần sau khi chúng tôi được định cư tại thành phố Lafayette, California vào cuối tháng 10 năm 75, ba tôi bắt đầu làm việc tại một công ty thu nhặt những bộ phận của xe hơi bị phế thải.  Lương ba tôi lúc đó là $2.50 một giờ.  Chủ công ty là một thành viên của nhà thờ mà gia đình Mỹ bảo lãnh cho chúng tôi thuộc vào.  Lúc đó, ba tôi đã 35 tuổi và công việc này là một bước xuống thật thấp trong đời ông.  Từ một thiếu tá trong quân đội Việt Nam Cộng Hòa, bây giờ ông thành một người phu quét dọn. Nhưng ba tôi không hề phàn nàn về sự thay đổi này. Ông hãnh diện đã có thể kiếm được đồng tiền một cách lương thiện, thành thật và có đuợc cơ hội để tự nuôi gia đình mình.

Với tinh thần làm việc chăm chỉ, ba tôi được thăng cấp lên chức vụ quản lý cho một ban trong công ty vài năm sau đó.  Trong chức vụ này, ba tôi có một người đồng nghiệp tên Lew, một người Mỹ da trắng cũng đã từng là cựu quân nhân chiến đấu ở Việt Nam.  Họ làm việc bên cạnh nhau mỗi ngày và trở thành bạn tốt. Họ gọi nhau là “work brothers” (anh em làm việc). 

Ba tôi nhiều lần chịu đựng những sự cố hận thù chủng tộc trong khi làm việc.  Ông kể cho chúng tôi nghe về nhiều lần những khách hàng đàn ông hung hăng gọi ông bằng những từ thóa mạ như “gook”, “chink”, hoặc “commy”, và mắng chửi ông bằng những từ hạ cấp khác.  “Cút về nước mày đi, thằng Tàu”, họ la lối lên.  Những lần khác thì có người lại la “Cút ra khỏi nước tao, đồ cộng sản!  Trở về nơi của mày.” 

Nhiều lần có khách hàng khạc nhổ vào ông.

Tôi cảm thấy muốn bảo vệ ba tôi và rất đau lòng khi biết ông phải chịu đựng những sự sỉ nhục và thù hằn như vậy.  Nhưng ông cố trấn an tôi rằng “Không ai có thể làm ba đau được với những lời hay hành động vô học và thù ghét của họ.  Hành vi cư xử của họ nói nhiều về bản chất con nguời của họ hơn là về ba. Ba biết mình là ai, là một con chiên Công Giáo tốt, luôn hết lòng cho gia đình mình, là một người chiến sĩ đã đổ máu và chiến đấu cho nước mình cho đến phút cuối cùng.  Không có gì mà bất cứ ai nói hay làm có thể thay đổi được điều này.”

Ông Lew đến nhà chúng tôi ăn tối nhiều lần và kể cho chúng tôi nghe những sự cố kỳ thị chủng tộc khác ba tôi gặp phải mà chính ông chứng kiến.  Lew và ba tôi nói đùa với nhau và nhiều khi còn cười về sự quái đản vô lý của những sự thù hằn chủng tộc mà ba tôi đã trải qua.  Tôi rất biết ơn khi nghe Lew bày tỏ sự phẫn nộ của ông đối với những thủ phạm như vậy, và khi ông chia sẽ những cách lách qua những sự đụng độ này để bảo vệ ba tôi. Tôi cảm thấy ấm lòng và cảm động khi nghĩ đến hai người cựu chiến binh can đảm này, khi xưa đã sống sót qua khỏi những hiểm nguy trên chiến trường, và bây giờ còn phải tiếp tục đánh những trận chiến kỳ thị chủng tộc tại Hoa Kỳ với nhau.  Họ có một tình bạn sâu đậm, dựa vào sự quan tâm, khâm phục, và kính trọng lẫn nhau.

Khi ba tôi kể lại những câu chuyện như vậy, ông dùng nó để dạy tôi và các em tôi về sự quan trọng của việc đối xử với mọi người bằng lòng tốt và sự kính trọng, bất kể về màu da, tôn giáo, công việc, hay địa vị của họ trong xã hội. Ông nhấn mạnh với chúng tôi về tầm quan trọng của sự siêng năng, cần mẫn, và làm việc lương thiện, thành thật để nuôi nấng gia đình mình.  

****

Khi bắt đầu nhập học năm 1975, Kim Uyên, em gái tôi, và tôi là hai đứa trẻ da màu (không phải là người Mỹ da trắng) duy nhất trong trường. Điều này khiến chúng tôi nổi bật ra và trở thành mục tiêu của những đứa trẻ khác soi mói và trêu chọc.  Mặc dù việc các bạn học này tò mò về những người mà họ cho là khác lạ là điều tự nhiên, sự chú ý không ngừng khiến chúng tôi cảm thấy bị thiệt thòi và không được đón nhận với thiện cảm. Bọn con nít đến Betty (Kim Uyên) và tôi để chạm vào người và bóp tóc, mặt, cánh tay, và chân. Những đứa khác thì nhạo báng và cười nhạo cách chúng tôi nói chuyện với nhau bằng tiếng Việt, hoặc khi chúng tôi cố gắng nói tiếng Anh. Trong khi tôi cũng bị thu hút bởi những đứa trẻ này, đặc biệt là những đứa trẻ có đôi mắt màu xanh lam, hoặc xanh lá cây, hoặc tóc đỏ, tóc vàng, tôi không dám nghĩ đến việc chạm vào người hay mặt chúng

Thử thách khó khăn nhất khi tôi lên học lớp ba là cô giáo của tôi, bà D. Bà ta là một phụ nữ trung niên cao lớn, mập mạp, không thân thiện, và toát ra sự nghiêm khắc, lạnh lùng, không hề vui vẻ, và độc đoán. Bà D hiếm khi mỉm cười và thường la hét. Bà cũng sử dụng hình phạt đánh đập để kiểm soát và đe dọa học sinh của mình. Nếu học sinh nào có hành vi sai trái trong lớp, bà sẽ hét tên họ, bảo chúng đi trước lớp và bảo cúi xuống. Sau đó, bà sẽ tiến hành đánh đòn chúng trước toàn bộ lớp học, sử dụng một cái mái chèo gỗ dày. Dĩ nhiên, những hành động trừng phạt như vậy và mối đe dọa của chúng đã khiến tất cả bọn học sinh chúng tôi phải ngoan ngoãn. Và vì tôi vẫn đang cố gắng học và nói tiếng Anh, sự thiếu kiên nhẫn và nghiêm khắc của bà D đã khiến tôi lúc nào cũng sợ hãi.

Cơn ác mộng lớn nhất của tôi đã trở thành sự thật trong tuần thứ hai của tôi trong lớp, trong giờ ra chơi. Nó bắt đầu từ sự tranh dành một quả bóng. Một con bé đến gần tôi và giựt quả bóng ra khỏi tay tôi trong khi tôi đang chơi với nó. Vì thế, tôi quay qua nó và và lấy lại. Con bé này lập tức chạy đến méc với cô giáo về tôi, và tôi không thể nói đủ nhanh để giải thích phần của mình về câu chuyện. Bà giáo D thô bạo kéo tôi bằng cánh tay vào lớp học trống rỗng của chúng tôi, bảo tôi cúi xuống, và đét tôi ít nhất năm cú đánh thật mạnh. Trong cơn đau dữ dội, mông tôi có cảm giác như đang bốc cháy và đầu tôi quay cuồng vì chóng mặt. Tôi cảm thấy nhục nhã và tức giận vì bị trừng phạt bất công trong khi không thể tự vệ. Tôi tự thề sẽ cố gắng học tiếng Anh chăm chỉ hơn để không bao giờ bị đặt vào vị trí bất lợi như vậy nữa.

***

Vài tuần sau, tôi lại gặp một bất ngờ lớn trong một trong những lễ nguyện bắt buộc hàng tuần. Tại các buổi lễ này, chúng tôi thường được trông đợi là phải cư xử ngoan ngoãn, hát, cầu nguyện, đọc các câu Kinh Thánh và lắng nghe bài giảng của mục sư. Giữa buổi lễ ngày hôm đó, bà giáo D kéo tôi ra khỏi chỗ ngồi và lên sân khấu. Sau đó bà ấy, mục sư và ba giáo viên khác đặt tôi vào giữa một vòng tròn họ hình thành xung quanh tôi. Họ tiến hành đặt tay lên tôi và cầu nguyện một lúc thật lâu mà tôi cảm thấy như là vĩnh viển. Tôi bắt đầu toát mồ hôi khi cảm giác muốn xỉu và kinh hãi siết chặt lấy tôi. Tôi không hiểu điều gì đang xảy ra, nhưng tôi nhớ đã nghe thấy cụm từ “Chấp nhận Chúa Jesus Christ là Chúa và Cứu Chúa của bạn.” Sau một thời gian không biết bao lâu, tôi được đưa ra khỏi sân khấu và trở về chỗ ngồi của mình trong hàng ghế.

Nhưng cái hoạn nạn này đã không kết thúc ở đó. Sau buổi lễ, tôi bị bà giáo D đưa đến một căn phòng trống cạnh nhà nguyện. Tôi im lặng đợi ở đó trong khi bà ấy và một giáo viên khác trò chuyện với nhau một cách hào hứng, nói thêm những từ mà tôi không hiểu. Tôi càng sợ hãi hơn từng phút, tự hỏi tại sao tôi lại bị giữ trong phòng này và họ sẽ làm gì tôi sau đó. Khi các học sinh khác ngồi xuống vào các lớp học của chúng, hai giáo viên này kéo tôi đi diễn hành quanh trường, đưa tôi vào từng lớp học. Khi chúng tôi vào mỗi lớp, một trong hai người nói thông báo một cách vui mừng và với giọng lên.  Tôi nghe loáng thoáng được cụm từ “Đã chấp nhận Jesus Christ là Chúa và Cứu Chúa” trong những lời họ nói. Mỗi lời nói của họ được theo sau bởi tiếng vỗ tay và cổ vũ của mọi người trong lớp. Trong khi bị kéo diễn quanh trường, tôi cảm thấy như có một nút thắt trong bụng, một cục u ở cổ họng, và cơ thể tôi bị hóa đá vì sợ hãi. Đồng thời, tôi sợ đến nỗi không dám bày tỏ bất kỳ cảm xúc tiêu cực nào, vì sợ rằng tôi có thể bị bà D. trừng phạt nhiều hơn nữa.

****

Hơn 40 năm sau, tôi và các em tôi đều đã trở thành những chuyên gia thành công nhờ sự học hành, làm việc chăm chỉ và kiên trì. Sau khi vượt qua nhiều nghịch cảnh, chướng ngại, và chấn thương trên đường đi của mình, tôi trở thành một nhà tiến sĩ tâm lý học thực hành (clinical psychologist) và là giáo sư giảng dạy tại Đại học California, Davis. Chồng tôi, Ladson Hinton, cũng là giáo sư tại trường đại học này. Tôi đã hy vọng rằng sự phân biệt chủng tộc mà gia đình tôi và tôi đã trải qua nhiều năm trước sẽ là quá khứ. Tôi đã sai.

   Vào ngày 9 tháng 11 năm 2016, tôi đã bị choáng váng bởi chiến thắng Tổng thống của Donald Trump. Nó làm tôi tự hỏi liệu nước Mỹ đã lạc đường đi.

Những ngày sau cuộc bầu cử, tôi thấy mình cảm thấy sợ hãi và lo âu mỗi khi bật nghe tin tức. Tôi đã rất kinh hoàng và tức giận vì sự khinh miệt của Trump đối với người di trú và người tị nạn, cách ông ta đặt họ chung vào với những kẻ khủng bố và tội phạm. Bầu không khí thù địch, hăm dọa và vô nhân đạo mà ông và chính quyền của ông đang tạo ra để chống lại người di trú cảm thấy không phải chỉ vô nhân đạo, bất công và phân biệt chủng tộc mà còn giống như một cái tát cá nhân vào mặt những người này. Tôi đặc biệt hoảng hốt và phẫn nộ vì cách đối xử vô nhân đạo của Trump đối với những đứa trẻ di cư, tách biệt chúng khỏi cha mẹ và nhốt chúng vào lồng. Vô số trẻ em kể cả Felipe Gomez Alonzo và Jakelin Caal Maquin, lần lượt 8 và 7 tuổi, đã chết trong sự chăm sóc của chính phủ Mỹ. Những đứa trẻ này trút hơi thở cuối cùng trên trái đất này mà không có một người nào trong gia đình ở bên cạnh.

Tôi lo lắng cho những đứa trẻ di cư này và tự nhiên cảm thấy “đồng bệnh tương liên” với chúng. Tôi nhớ lại cuộc trốn thoát của chính mình và nỗi đau buồn và kinh hoàng tôi cảm thấy khi bị tách khỏi gia đình, trong khi chúng tôi trốn khỏi Việt Nam năm 1975. Tôi rùng mình khi nghĩ đến những gì các trẻ em này phải trải qua khi chúng bị xé ra khỏi tay cha mẹ, và không biết liệu họ có được đoàn tụ hay không. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng những chấn thương như vậy có cả tác động ngắn hạn và dài hạn về não bộ, phát triển tâm lý, sinh lý và xã hội của trẻ em. Khi tôi suy nghĩ về hoàn cảnh của những đứa trẻ này, một câu nói của Tiến sĩ Martin Luther King Jr. cứ vang vọng mãi trong tâm trí tôi “Sau cùng, chúng ta sẽ không nhớ đến lời nói của kẻ thù, mà nhớ đến sự im lặng của bạn hữu mình.”

   Lời nói của Tiến sĩ King gặm nhấm tôi và buộc tôi phải suy nghĩ và tự xét mình. Tôi tự hỏi mình có thể làm gì để giúp những đứa trẻ này. Tôi mệt mỏi bị quay vòng giữa những cảm giác tức giận, sợ hãi và tuyệt vọng. Đồng thời, tôi biết tôi không thể là người bạn thầm lặng mà tôi phải làm một việc gì đó! Là một người tị nạn, tôi cảm thấy có trách nhiệm sâu sắc trong việc quở trách lại Trump và chính quyền của ông ta vì những cố gắng giảm giá trị, quỷ dị hoá, và phi nhân hóa người tị nạn bằng cách gọi họ là những kẻ xâm lược, tội phạm, hay những kẻ khủng bố. Là một bác sĩ tâm lý học và một người mẹ, tôi cảm thấy có một nghĩa vụ, bổn phận đạo đức mạnh mẽ phải lên tiếng chống lại tác hại chính quyền đang gây ra cho những đứa trẻ vô tội này.

   Sau cùng, tôi quyết định rằng tôi sẽ cố gắng giúp đỡ chúng bằng cách nói lên thêm về kinh nghiệm của tôi khi là người tị nạn Việt Nam. Tôi sẽ cố gắng nhân cách hóa chúng ta là ai và minh họa rằng chúng ta, người tị nạn, là thành viên hữu ích của xã hội, là những người có đóng góp quý giá cho đất nước này. Tôi hy vọng rằng bằng cách chia sẻ kinh nghiệm của mình, tôi có thể nuôi dưỡng lòng trắc ẩn và sự hiểu biết thông cảm hơn cho những người di trú và tị nạn. 

   Vì thế tôi đã chấp nhận lời mời nhiều nơi để nói về kinh nghiệm là người tị nạn của mình. Tôi đã nói chuyện với báo, tạp chí, chương trình phát thanh, và hàng ngàn sinh viên đại học tại các cơ sở khác nhau. Tôi tin rằng những sinh viên này đại diện cho hy vọng lớn nhất trong tương lai của chúng ta  – họ có thể và đang thực hiện các sự đàm thoại và hành động chính trị xã hội của đất nước này để hướng tới sự khoan dung, công bằng và bình đẳng hơn. Trong các lớp học, câu lạc bộ và các tổ chức của họ, tôi đã nói về những gì chính tôi và gia đình tôi đã trải qua khi còn là người tị nạn. Tôi nói rõ ràng và không hề thu lại những chỉ trích của tôi về Tổng thống Trump và chính quyền của ông về chính sách nhập cư, cách đối xử vô nhân đạo của họ đối với các gia đình di cư, và sự diễn tả tiêu cực của họ về người di trú. Tôi cũng nhấn mạnh với các sinh viên này tầm quan trọng của sự tham gia vào các hoạt động công dân và chính trị, và kêu gọi họ bỏ phiếu trong cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ 2018.

   Vào tháng 3 năm 2017, tôi đã được lời mời từ đài truyền hình công cộng Sacramento, KVIE, để quay phim nói về trải nghiệm trốn thoát Việt Nam của tôi. Nó sẽ được phát sóng vào mùa thu, đồng hành với bộ phim tài liệu “Cuộc chiến Việt Nam” của Ken Burns. Câu chuyện của tôi là một phần của bộ sưu tập video mang tên “Câu chuyện chiến tranh Việt Nam của tôi”. Tôi đã chấp nhận yêu cầu này và xem nó như một cơ hội để chia sẻ với công chúng về kinh nghiệm của tôi và gia đình tôi với tư cách là người tị nạn. Tôi hy vọng rằng câu chuyện của chúng tôi sẽ đánh thức ý thức nhân bản chung ở những người khác và thúc đẩy sự đồng cảm lớn hơn đối với những người di trú. Một cuộc hẹn đã được thiết lập để ghi hình tại studio.

   Vào ngày hôm đó, tôi đến đài KVIE. Cái phòng quay phim thật lạnh cóng. Điều này làm tôi thật lo lắng, vì tôi không chịu lạnh được do hậu quả của bệnh bại liệt. Tôi cũng bị run cơ bản, bởi vì bệnh rối loạn thần kinh gây ra sự run rẩy không kiểm soát được ở tay và đầu. Khi tôi lạnh, cơn run có thể trở nên nghiêm trọng đến nỗi có vẻ như tôi mắc bệnh Parkinson. Tôi yêu cầu họ tăng nhiệt độ nhưng được bảo rằng phòng thu hình cần được giữ lạnh vì ánh sáng có khả năng làm cho nó quá nóng. Vì vậy, tôi đã không làm lớn chuyện và chỉ tiếp tục với việc ghi âm. Tôi đã nói hơn một giờ về việc tôi thoát khỏi Việt Nam và quá trình định cư của gia đình tôi.

   Vào ngày 12 tháng 9 năm 2017, tôi đã nói chuyện tại một buổi thảo luận lớn của KVIE cho cả loạt phim tài liệu của Ken Burns và KVIE về Việt Nam. Hai ngày sau, tôi được phỏng vấn trên làn sóng radio bởi Beth Ruyak, cho Insight, tại Capital Public Radio. Cuộc thảo luận tập trung vào hai bộ phim tài liệu và kinh nghiệm của tôi khi là người tị nạn Việt Nam.

   Trong cả hai buổi nói chuyện này, tôi nói về tầm quan trọng của việc nhân bản hóa bộ mặt chiến tranh bằng cách bàn luận về sự kinh hoàng, mất mát nhà cửa, gia đình, và tổ quốc, và sự đau khổ do chiến tranh gây ra. Tôi cảm ơn các cựu chiến binh Việt Nam đã chiến đấu cho đất nước chúng tôi và xin lỗi họ vì sự đối xử tồi tệ mà họ nhận được khi trở về nước Mỹ. Tôi một lần nữa chỉ trích Trump và chính quyền của ông về việc quỷ dị hóa và đối xử tàn tệ với người di trú. Tôi nói với khán giả rằng tôi đến đây để nói lên một hình ảnh khác về những người di cư và người tị nạn là những công dân chăm chỉ, tuân thủ luật pháp, những người không có sự lựa chọn nào khác ngoài chạy trốn khỏi quê hương của mình vì hoàn cảnh chiến tranh và bạo động. Chúng tôi đã trốn thoát để tìm kiếm đất lành cư ngụ và cơ hội được sống cuộc sống hữu ích, những điều cơ bản mà tất cả mọi con người phấn đấu để đạt được.

   Tôi cũng kêu gọi khán thính giả suy nghĩ về hoàn cảnh của tám trăm ngàn Dreamers (đây là những người di trú trẻ không có giấy tờ chính thức đến Hoa Kỳ khi còn nhỏ, đã sống và đi học ở đây, và trong nhiều trường hợp họ coi mình là người Mỹ) và gia đình của họ, những người đang sống trong sợ hãi và một tương lai bất an, không chừng. Tôi kêu gọi họ gây áp lực lên Quốc hội để khôi phục Chương trình Hành động Trì hoãn cho Trẻ em (DACA – Deferred Action for Childhood Arrivals), và thúc đẩy việc cho nhập tịch của những người trẻ này. Cuối cùng, tôi đã thách thức khán thính giả suy nghĩ họ sẽ làm gì nếu chiến tranh và bạo động nổ ra ở ngay nơi họ ở. Họ muốn cộng đồng thế giới đối xử với họ như thế nào?

   Trong suốt tháng 9 và tháng 10 năm 2017, bộ phim tài liệu của tôi đã được đài KVIE phát sóng nhiều lần. Đối với tôi, phần ý nghĩa nhất khi tham gia dự án này là nghe ý kiến của công chúng và tìm hiểu câu chuyện của mình đã ảnh hưởng họ như thế nào. Nhiều người đã gọi, viết và chia sẻ rằng bộ phim tài liệu đã khiến họ hiểu biết sâu sắc và có đánh giá cao hơn đối với những người di trú, người tị nạn, và cuộc đấu tranh của họ. Ngay sau khi “Câu chuyện chiến tranh Việt Nam của tôi” được phát sóng, tôi đã biết từ KVIE rằng bộ phim này đã được đề cử giải Emmy trong khu vực. Dù không thắng giải, đây vẫn là một vinh dự khi được đề cử.

* * *

   Vào chiều chủ nhật đẹp trời ngày 24 tháng 9 năm 2017, tôi trở về nhà sau một ngày cuối tuần đi chơi thật vui với những những người bạn thật thân của tôi từ thời đại học, những người mà tôi coi là chị em cùng một tâm hồn với mình. Chúng tôi là bạn trong ba mươi lăm năm và đã luôn giúp đỡ, lo lắng cho nhau trong lúc vui cũng như khi hoạn nạn. Bất kể việc gì xảy ra trong cuộc sống, chúng tôi luôn dành ít nhất một ngày cuối tuần để gặp nhau mỗi năm. Trong những chuyến họp mặt này, chúng tôi cập nhật tin tức, hoàn cảnh gia đình, chia sẻ những lời khuyên làm cha mẹ, trao đổi với nhau những cuốn sách hay nên đọc và cùng nhau thưởng thức những bữa ăn tuyệt vời. Năm nay, chúng tôi đã đi lên núi gần hồ Tahoe, California.

   Sau khi về nhà và nói hello nhanh chóng với chồng và con gái tôi, Ladson, Carina và Mika, tôi đã đi đến gym tập thể dục. Theo thói quen, tôi tập thể dục năm lần một tuần để tự chăm sóc sức khỏe bản thân. Sau khi tập xong, tôi luôn đến ngâm trong bồn tắm nước nóng ngoài trời, xem như là một phần thưởng của mình. Tôi sử dụng thời gian yên tĩnh này để thiền và để giảm sự nhức mỏi và cơn đau kinh niên của tôi, tàn dư từ bệnh polio (sốt tê liệt) lúc nhỏ.

   Sau năm phút ngâm mình thư giãn, tôi nghe thấy một tiếng nước văng bắn lên. Một người đàn ông da trắng khoảng 50 tuổi bước vào bồn nước nóng. Tôi sẽ gọi ông ta là John. Chúng tôi đã nhìn nhau và cười xã giao. Sau đó, tôi nhắm mắt lại và tiếp tục thiền. Một phút sau, ông ta lên tiếng hỏi  “Bà có phải đang thiền không? Bà giống như là đang thiền vậy.”

   Tôi gật đầu và không nói gì. Sau đó, John tiếp tục nói với tôi rằng hắn ta đã nghe một thành viên câu lạc bộ khác bảo rằng tôi đã sống ở Boston một thời gian. Rồi hắn ta bắt đầu nói về “tên khủng bố đánh bom ở Boston” và “tại sao gia đình của tên ấy đáng lẽ không bao giờ nên được đưa vào đất nước này”, và “tất cả những người tị nạn đều là kẻ gian trá và nên bị tống về nước”. John cũng ngang nhiên khoe rằng hắn là một chuyên gia về công nghệ thông tin và có thể tìm được chi tiết hay thông tin về mọi việc và mọi người. Mặc dù tôi đã nhìn thấy John ở câu lạc bộ nhiều lần, tôi chưa bao giờ trao đổi nhiều hơn một vài lời xã giao với hắn ta, và tôi cũng chưa bao giờ nói với hắn bất cứ điều gì về bản thân mình.

   Tôi mở mắt ra và nói dứt khoát rằng “Tôi không nghĩ rằng tất cả những người tị nạn phải bị trả về nước. Đừng nói chuyện với tôi nữa, tôi đang thiền.” Rồi tôi lại nhắm mắt lại.

   John làm lơ lời yêu cầu của tôi và tiếp tục lên giọng với tôi rằng hắn “ghét tất cả người da đen và người Mễ”, “tất cả bọn chúng đều là tội phạm”, và “chúng là thủ phạm của đa số các tội ác và tại sao nhà tù đầy dẫy bọn chúng.”

    Tôi không thèm trả lời. Cùng lúc đó, một người đàn ông khác bước vào bồn nước nóng. Tôi cảm thấy bớt căng thẳng và hy vọng rằng John sẽ chuyển sự chú ý của mình sang người mới vào. Nhưng không, John lại lên giọng cao hơn và nói “Hey, Hey, mày có nghe không? Mày có nghe thấy những gì tao vừa nói không?”

   Tôi vẫn lặng yên. Rồi John hét lên “Mày có phải là đồ tị nạn không? Tao biết mày là ai mà!”

    Sự khinh miệt trong giọng nói của John đã làm tôi lạnh xương sống. Tôi tự hỏi làm thế nào mà hắn biết rằng tôi là một người tị nạn và tại sao hắn ta lại la lên điều này. Tôi mở mắt ra và thấy John đang trừng mắt vào tôi. Tôi nói với hắn một lần nữa rằng tôi không muốn nói chuyện.

   Rồi John bắt đầu hét lên “Chắc mày đọc những thứ chết tiệt như tờ New York Times, phải không! Tao muốn phát điên lên vì bọn ngu dốt chúng mày không biết nghĩ cho chính mình!”

   Tôi đứng dậy, nhìn thẳng vào mắt hắn ta và nói với giọng bình tĩnh nhưng cứng rắn “Ông phải ngừng ngay bây giờ, nếu không tôi sẽ báo cáo ông về sự quấy rối người khác!”

“Không, mày cần phải tự học, bitch. Mày phải suy nghĩ cho bản thân mình, bitch!” (Bitch, nghĩa đen là con chó cái, là một từ thóa mạ trong tiếng Anh)

Tôi nhìn người đàn ông kia trong bồn tắm và hỏi “Ông có nghe thấy hắn vừa gọi tôi là gì không?”

Người đàn ông kia lắc đầu, tránh mắt đi và không dám nói gì.

Câu trả lời thụ động và thờ ơ của người đàn ông kia dường như khuyến khích John tiếp tục tăng cường độ sự tức giận của hắn. Hắn ta hét lên những tiếng thóa mạ, chửi mắng tôi với những từ tục tĩu hạ tiện nhất, trong khi tôi liên tục bảo hắn ngừng lại.

   Sau khoảng năm phút chửi mắng thậm tệ và dai dẳng của hắn, tôi bước ra khỏi bồn nước nóng và đi về phía phòng thay đồ, trong khi hắn vẫn tiếp tục hét lên những lời tục tĩu với tôi. Khi tôi bước vào phòng thay đồ của phụ nữ, tôi thấy nó vắng người. Lúc này tôi lên cảnh giác cao độ. Tim tôi đập thình thịch và óc tôi căng thẳng lên. Tôi tự hỏi liệu John có cả gan xông vào phòng thay đồ phụ nữ và tiếp tục cơn thịnh nộ của hắn không. Tôi đã cố gắng nghĩ về những phải ứng của mình nếu hắn làm như vậy. Tôi sẽ phải hét lên để được người khác giúp đỡ? Nếu không ai nghe tôi thì sao? Tôi phải nhanh chóng ra khỏi đây!

   Tôi vội bước vào một phòng tắm, khóa cửa và thay mặc quần áo thật nhanh. Khi tôi bước ra khỏi phòng tắm, một người phụ nữ mà tôi chưa bao giờ gặp trước đây bước vào phòng và hỏi tôi với sự lo lắng “Bạn có ok không? Tôi nghe tên ấy nổi xung với bạn. Bạn thật là can đảm tuyệt vời khi dám đứng lên đối đầu với hắn. Tên đó thiệt là hung hăng! Lúc nãy, tôi sợ hắn ấy sẽ đặt tay lên đánh bạn.”

   Tôi thật biết ơn người đàn bà ấy đã đến để xem tôi có ok không. Tôi cảm thấy bà ta như một thiên thần được Chúa và Mẹ Mary gửi đến để giúp tôi. Tôi cảm ơn lòng tốt và hỏi xin tên và số điện thoại của bà. Tôi nói với bà ấy rằng tôi muốn báo cáo hành động thù ghét của John với chủ của câu lạc bộ và sẽ thật biết ơn nếu bà có thể làm nhân chứng cho việc này. Bà cho tôi biết tên (tôi sẽ gọi bà ấy là Stacey), và nói rằng bà ấy sẽ rất vui khi nếu có thể giúp đỡ bằng bất cứ cách nào. Stacey và tôi đến quầy lễ tân của câu lạc bộ và báo cáo việc này với một nhân viên. Sau đó tôi đi thẳng về nhà.

   Khi về đến nhà, tôi kể với chồng và các con gái tôi, Ladson, Carina và Mika, về những gì vừa xảy ra và sau đó đi thẳng vào máy tính của tôi để viết xuống tất cả những chi tiết khi sự việc vẫn còn nóng hổi trong tâm trí mình.

    Vào lúc đó, Carina và Mika mới mười chín và mười bốn tuổi. Ladson (chồng tôi) và tôi thật buồn và thất vọng vì con gái chúng tôi đã phải bị va chạm với thực tế của nạn phân biệt chủng tộc, nhắm vào mẹ chúng và ở thành phố của mình. Chúng tôi đến sống ở thành phố này (Davis, California) và nghĩ rằng vì đây là một thành phố đại học với trào lưu cấp tiến, những điều như vậy sẽ không xảy ra với chúng tôi ở đây. Chúng tôi đã sai.

Trong các bữa ăn tối, gia đình tôi đã có nhiều cuộc thảo luận về các vấn đề liên quan đến chủng tộc và công bằng xã hội. Tối hôm đó, chúng tôi bàn về sự cố chấp là một vấn đề lớn như thế nào trong xã hội, sự kỳ thị chủng tộc ngày càng rõ ràng như thế nào, và thật là vô phước khi một số sắc tộc và tôn giáo  bị gánh nặng kỳ thị nhiều hơn so với những người khác, và tất cả mọi người trong chúng ta phải có trách nhiệm lên tiếng chống lại những sự bất công này.

   “Mẹ có định bỏ việc đi tập thể dục trong ít lâu không?”, các con tôi hỏi tôi.

    “Không,” tôi bảo chúng. “Chúng ta không bao giờ để những người như John hăm dọa chúng ta hoặc thay đổi cách mình sống.”

   Tôi bảo gia đình là tôi sẽ báo cáo John với cảnh sát và chủ câu lạc bộ vào ngày hôm sau. Nếu John làm bất cứ điều gì, tôi sẽ áp dụng toàn bộ luật pháp để truy tố hắn ta. Ladson tự hỏi liệu John có thể đã xem phim tài liệu của tôi phát sóng trên đài KVIE và vì thế nhắm mục tiêu vào tôi.

   Sau bữa tối, tôi xem điện thoại làm việc của mình và thấy mình đã nhận được bốn cái text messages từ một số mà tôi không nhận ra lúc 8:24 tối. Khi tôi mở những texts này ra, tôi nhận ra ngay John là người đã gửi chúng. Chúng chứa các bài báo, đồ thị và số lượng tỷ lệ giam giữ trong tù ở California phân chia ra theo chủng tộc. Trong texts của hắn, John nói rằng hắn gửi  tôi những thông tin này để “dạy dỗ” tôi và tôi chứng minh rằng đa số các tội ác ở Mỹ đều do người da đen và người châu Mỹ La Tinh (Hispanics) phạm phải.

    Nhận được các texts của John càng làm tôi thật bực mình. Tôi cảm thấy như hắn ta đang xâm phạm không gian cá nhân của tôi. Tôi nói với Ladson về các texts này và sau đó quay trở lại phòng của chúng tôi để thiền, một việc tôi làm mỗi tối trước khi đi ngủ. Khi tôi ngồi trên chiếc đệm thiền của mình, những lời nói của ba tôi đã quay trở lại với tôi  “Không ai có thể làm tổn thương mình bằng những lời nói và hành động ngu dốt và đáng ghét của họ. Hành vi của họ nói nhiều về con người của họ hơn là mình.”

   Ba tôi đã bảo tôi điều này từ nhiều năm trước, khi tôi rất lo sợ cho sự an toàn của ông trong thời gian ông ta là nạn nhân của nhiều hành vi thù ghét chủng tộc. Ông đã ngẩng cao đầu và không để cho sự thiếu hiểu biết và nọc độc của người khác ảnh hưởng đến mình. Bây giờ, những lời dạy thâm thúy của ông đã mang đến cho tôi sự thoải mái và cân bằng khi tôi trải nghiệm sự thù ghét chủng tộc của người khác đối với chính mình.

   Sáng hôm sau, tôi đến phòng tập thể dục và nói chuyện với chủ câu lạc bộ thể dục, người mà tôi sẽ gọi là Sheri, về những gì đã xảy ra đêm hôm trước. Tôi đọc cho cô ấy ghi nhận của tôi về việc ấy và đưa cho cô ấy một bản sao. Tôi cũng cho cô ta thông tin liên lạc của Stacey, vì bà ta là nhân chứng. Sheri bảo tôi rằng cô ấy sẽ xem xét vấn đề và nói chuyện với tôi sau buổi tập.

   Khi tôi gặp cô ta sau đó, Sheri tỏ ra hối tiếc và lo lắng cho những gì đã xảy ra với tôi. Sau đó cô ấy gọi cho John khi tôi vẫn còn ở đó để báo cho hắn rằng membership của hắn đã bị cắt đứt. Lúc đầu John cố gắng chối mọi thứ. Hắn nói rằng “chúng tôi chỉ nói chuyện thôi”. Khi Sheri nói với hắn rằng có những nhân chứng đã báo cáo hắn, hắn hét lên và hăm dọa cô ta. Sau khi Sheri tắt điện thoại với John, cô lập tức báo cáo của cảnh sát và bảo nhân viên của mình hãy hết sức cảnh giác và hướng dẫn họ gọi 911 nếu hắn vào phòng tập thể dục. Cô ấy cũng bảo tôi rằng cảnh sát đã khuyên tôi nên đến đồn cảnh sát ngay lập tức để báo cáo “hate crime” (tội phạm thù hận) này.

   Tôi rời phòng tập và đi thẳng đến đồn cảnh sát. Tôi được tiếp bởi cảnh sát Tim (không phải tên thật của ông ta), và ông dẫn tôi vào một căn phòng không có cửa sổ. Tôi đã đọc cho ông ta nghe những gì tôi đã viết về việc xảy ra tối hôm qua và nói với ông những gì đã xảy ra với Sheri tại phòng tập thể dục sáng hôm đó, và luôn cả tên viên cảnh sát mà cô ấy nói chuyện đã hướng dẫn tôi đến để báo cáo “hate crime” (tội phạm thù hận) này. Tôi bảo ông sĩ quan Tim rằng những bình luận kỳ thị chủng tộc của John và cơn thịnh nộ của hắn làm tôi thật lo sợ. Tôi muốn biết những gì tôi có thể làm để bảo vệ bản thân mình vì hắn đã gửi cho tôi bốn cái text messages.

   Sĩ quan Tim, người khoảng mới hơn ba mươi, có một nét mặt lạnh lùng và nói với tôi với một giọng nói thiếu tình cảm, đơn điệu phẳng lặng “Đây không phải là tội phạm luật. Hắn ta chưa làm điều gì bất hợp pháp. Ông ta có thể thi hành quyển First Amendment (tự do ngôn luận) và có thể nói bất cứ điều gì ông ta muốn nói. Để việc này thực sự trở thành một tội ác, anh ta phải gây ra tổn thương cơ thể hoặc đe dọa nguy hiểm ngay lập tức đến tính mạng của bà. Ngoài ra, số điện thoại của bà được công bố.  Vì thế ông ấy có thể gửi text cho bà nhiều như ông ấy muốn. Nếu bà không muốn điều đó xảy ra, bà phải thực hiện các bước để xóa số điện thoại của mình.”

“Vậy là tôi không có thể làm gì để tự bảo vệ bản thân mình à?”

“Không, không có gì cả.”

Tôi sững sờ và im lặng nhìn viên sĩ quan vô tình này.

Tôi nói “Tôi thật bối rối không hiểu tại sao một sĩ quan khác từ đồn cảnh sát này chỉ bảo tôi đến nộp báo cáo cảnh sát ngay lập tức nếu những gì ông nói là đúng.”

Sĩ quan Tim thở dài và trả lời “Thôi được, nếu bà muốn bà có thể điền vào một báo cáo sự cố thù hận.”

“Có”, tôi đã trả lời ngay lập tức, “Tôi nhất định muốn làm điều đó.”

Ông ta yêu cầu tôi đưa cho ông bản in của tôi về sự việc tối hôm qua. Rồi ông ta đứng dậy đột ngột và đưa tôi ra ngoài.

“Tôi có thể nhận được một copy của báo cáo sau khi hoàn thành không?”

Tim trả lời nhạt nhẽo “Tôi không biết thủ tục làm thế nào để bà có thể xin được copy của bản báo cáo.” 

“Tôi có thể nói chuyện với ai khác biết thủ tục này không?”

“Bà hãy gặp người khác ở phía trước”, Tim trả lời rồi nhanh chân bước ra khỏi phòng.

* * *

Rời đồn cảnh sát, tôi cảm thấy choáng váng, thất vọng và tức giận. Tôi thật bực dọc với cách viên cảnh sát Tim đối xử với tôi. Nó làm tôi hiểu rõ hơn lý do tại sao một số nạn nhân có thể chọn không báo cáo các tội ác họ gặp phải với cảnh sát, và cảm thông hơn với sự tái tổn thương của họ bởi vì sự đối xử tiêu cực mà họ nhận được từ cơ quan thi hành pháp luật.

   Một người bạn xin phép tôi để hỏi ý kiến của một city council member (thành viên hội đồng thành phố) đáng tin cậy, mà cũng là bạn của cô ấy, để hỏi xem những gì đã xảy ra với sĩ quan Tim có phù hợp hay không. Người city council này đã nhanh chóng gửi email cho tôi và kết nối tôi với ông cảnh sát trưởng. Ông cảnh sát trưởng đã liên lạc với tôi và mời tôi nói chuyện trực tiếp với ông về sự việc xảy ra. Tôi cảm ơn ông đã mau chóng đáp ứng và sắp xếp thời gian để gặp ông ta vào tuần sau.

   Vào ngày hôm đó, thư ký của ông cảnh sát trưởng dẫn tôi vào văn phòng của ông.  Tôi cảm ơn ông đã tiếp tôi. Tôi chia sẻ chi tiết về cái “hate incident” (sự cố thù hận) tôi gặp phải hỏi ý kiến ông tôi có thể làm gì được. Ông cảnh sát trưởng là người có vẻ tốt bụng và đưa ra những gợi ý hữu ích. Ông bảo tôi rằng nếu John text cho tôi, tôi nên text lại cho hắn ngay lập tức “Đừng text tôi lần nữa. Ông đang quấy rầy tôi”. Sau đó tôi nên báo cáo sự việc cho cảnh sát ngay, và họ sẽ xử lý tình huống này. Ông cảnh sát trưởng cũng nói rõ sự khác biệt giữa báo cáo “hate crime” (tội phạm thù hận) so với nộp báo cáo “hate incident” (sự cố thù ghét). Điều xảy ra với tôi là một “hate incident: (sự cố thù ghét) và tôi đã làm đúng khi báo cho cảnh sát và nộp báo cáo. Ông cũng chia sẻ rằng đã có sự gia tăng đáng kể về số lượng tội phạm thù hận và sự cố thù ghét xảy ra trong thành phố này kể từ cuộc bầu cử năm 2016.

   Tôi đặt vấn đề với ông cảnh sát trưởng về những gì đã xảy ra với sĩ quan Tim. Tôi bảo rằng buổi gặp mặt với Tim làm cảm thấy ông cảnh sát này vô cảm, và có thái độ xua đuổi và đổ lỗi cho nạn nhân. Tôi lo rằng những hành vi như vậy có thể làm tổn thương các nạn nhân đã cố gắng báo cáo tội ác và ngăn cản các nạn nhân khác cũng làm như vậy. Tôi cảm ơn ông cảnh sát trưởng đã giải thích sự khác biệt giữa tội phạm thù hận và sự cố thù ghét và hỏi lý do tại sao sĩ quan Tim đã không cho tôi biết rằng tôi có thể nộp báo cáo cho đến khi kết thúc và tại sao ông ta dường như muốn ngăn cản tôi làm như vậy. Ông cảnh sát trưởng xin lỗi tôi vì những gì đã xảy ra và đảm bảo với tôi rằng ông sẽ chỉ bảo Tim để thực hiện những thay đổi cần thiết.

   Tôi cũng đề nghị ông nên có thêm những buổi huấn luyện cho các cảnh sát viên của ông về sự nhạy cảm với công chúng bởi vì những gì đã xảy ra với tôi và một số cuộc xô xát gần đây giữa cảnh sát và những người trong cộng đồng chúng tôi. Ông cảnh sát trưởng nói rằng các sĩ quan của ông được huấn luyện nhạy cảm một cách thường xuyên, nhưng có lẽ đã đến lúc họ cần một khóa bồi dưỡng.

* * *

Sự thù ghét xảy ra ở phòng tập thể dục đã làm tôi mở mắt và rùng mình. Tôi chưa bao giờ bị ai nói như vậy và tôi cũng chưa bao giờ có những lời thậm tệ như vậy nhắm vào mình. Sự kiện này khiến tôi băn khoăn không biết có phải những phát biểu của Trump về sự phẫn nộ của người da trắng và việc ông chỉ trích và so sánh những người nhập cư như tội phạm hay ác quỷ đã thúc đẩy những người như John nhắm và công kích người di trú hay không.

John và những người như ông ta chưa bao giờ chịu tìm hiểu sự thật về thống kê tội phạm của nước Mỹ. Xét về số lượng tội phạm đã gây ra, người da trắng thực sự phạm tội ở Hoa Kỳ nhiều hơn bất kỳ nhóm dân tộc nào khác.  Điều này hợp lý vì họ là đa số. Sự biểu lộ quá mức của người da đen và gốc châu Mỹ La tinh trong các nhà tù có thể được quy vào cho sự kỳ thị chủng tộc vốn có trong các hệ thống hành pháp và tư pháp của chúng ta, có xu hướng bắt giữ, kết án và tống giam các nhóm người này với tỷ lệ cao hơn và cho họ bản án dài hơn, cho cùng những tội ác phạm phải bởi người da trắng. Hơn nữa, nhiều nghiên cứu trong hai mươi năm qua đã cho thấy sự gia tăng 130% trong các tội phạm ma túy do người da trắng gây ra, so với việc giảm 50% trong các tội ác như vậy của người da đen. Đồng thời, đối với các tội phạm ma túy tương tự, người da trắng được nhận các dịch vụ cai nghiện trong khi người da đen dễ bị tống vào tù hơn. Cuối cùng, nghiên cứu cho thấy những người nhập cư luôn có tỷ số phạm tội ít hơn so với người Mỹ bản xứ.

   Những thống kê thuyết phục này nên khiến tất cả chúng ta suy nghĩ lại và buộc chúng ta phải trực diện đối đầu với những người kêu xéo người di trú và người da màu là tội phạm. Chúng ta cũng cần phải bênh vực và đòi hỏi guồng máy hành pháp đối xử bình đẳng hơn đối với tất cả những người phạm tội theo luật, bất kể chủng tộc. Với tỷ lệ tù đày đáng kinh ngạc ở nước ta so với các nước đang phát triển khác, việc nên làm là đầu tư nhiều tiền hơn vào các chương trình cải tạo những người phạm tội bất bạo động lần đầu thay vì đưa họ vào tù. Những người bị giam giữ có thể được hưởng lợi từ nhiều chương trình chú trọng vào xây dựng kỹ năng làm việc cho họ, ảnh hưởng đến quy định, và đào tạo nghề nghiệp để giúp họ chuẩn bị cho cuộc sống bên ngoài nhà tù. Một thí dụ điển hình là các nhà tù cung cấp các chương trình giảm căng thẳng và thiền định dựa cho tù nhân đã thấy chúng rất có hiệu quả và hữu ích.

   Tất nhiên, những phát biểu thù hận của Trump đối với người nhập cư đã ảnh hưởng không chỉ đến thành phố nơi tôi sống. Nó trùng hợp với sự gia tăng của các tội ác thù hận và nhóm hay tổ chức thù hận trên khắp nước Mỹ. Trung tâm Southern Poverty Law Center báo cáo rằng trong năm 2018, con số “hate groups” (nhóm thù hận những người không phải da trắng) ở Mỹ đã tăng lên mức cao nhất trong hai mươi năm. Các nhóm này chịu trách nhiệm giết chết ít nhất bốn mươi người ở Hoa Kỳ và Canada vào năm 2018, tăng gấp đôi số lượng so với năm trước. Thống kê từ FBI năm 2017 cho thấy tội phạm thù hận gia tăng 30% và “the Anti-Defamation League” (Liên đoàn chống phỉ báng) đã tiết lộ rằng những nhóm “white supremacist” (từ này dùng để chỉ những người tin rằng người da trắng phải có vị trí tối cao trong xã hội) và các nhóm cực hữu khác đã thực hiện phần lớn các vụ giết người vì cực đoan ở Hoa Kỳ vào năm 2017.

   Việc Trump từ chối lên án những kẻ white supremacist (siêu quyền lực người da trắng) vì những lời lẽ và tội ác kỳ thị chủng tộc của họ được minh họa bằng sự miễn cưỡng từ chối sự ủng hộ của David Duke (một cựu cán bộ cao cấp của nhóm Ku Klux Klan) khi ông ra tranh cử tổng thống. Phát biểu của Trump rằng “Có những người rất tốt ở cả hai bên” sau cuộc biểu tình “Unite the Right” ở Charlottesville, Virginia, nơi mà người phản kháng biểu tình Heather Heyer bị giết, và mô tả của Trump về Haiti và các nước châu Phi như “shitholes” (ổ phân), là những thí dụ điển hình về sự cố chấp và ngấm ngầm ủng hộ các nhóm hate groups để chúng tiếp tục các hoạt động tàn bạo. Trên thực tế, nhiều người white supremacists đã ca tụng tên Trump tại các cuộc mít tinh và xác định ông là người ủng hộ cho mục đích của họ. Sự điên cuồng chống người nhập cư được thúc đẩy bởi Trump, với các cuộc nói chuyện của Trump so sánh các đoàn lữ hành di cư như xâm chiếm biên giới Hoa Kỳ, đã thúc đẩy một người white supremacist giết chết mười một tín đồ tại giáo đường The Tree of Life ở Pittsburg, Pennsylvania.  Một người khác đã giết hai mươi hai mạng sống ở El Paso năm 2019. Nghi phạm trong vụ nổ súng ở New Zealand, người đã giết năm mươi người Hồi giáo tại hai nhà thờ Hồi giáo vào tháng 3 năm 2019, đã ca ngợi Trump và nhấn mạnh ông là “một biểu tượng của bản sắc da trắng được đổi mới và mục đích chung”.

   Hơn nữa, sự dễ dàng và thường xuyên mà ông tổng thống này nói dối, cùng với sự bốc đồng, nhỏ mọn, và thiếu đạo đức của ông, là những điều thật đáng lo lắng. Cách đối xử với phụ nữ của ông ta cũng thật tệ hại và đáng trách không kém – khi ông biến họ thành những vật quan sát bằng cách đưa ra những nhận xét thô thiển về ngoại hình, dung nhan của họ, hay gọi họ bằng những biệt danh thô lỗ, và khoe khoang về việc quấy rối tình dục họ. Những hành vi này thật đặc biệt kinh hoàng khi ta hiểu rằng là tổng thống, ông ta đương nhiên là một role model (mô hình mẫu mực) cho người khác.

   Việc Trump và chính quyền của ông biến những người Hồi giáo, người Mễ, người di cư và người nhập cư là việc làm không tôn trọng, hạ cấp con người, và thật nguy hiểm. Đất nước này có một lịch sử đen tối gạt ra bên lề nhiều nhóm người để chúng ta có thể từ chối các quyền cơ bản của họ: phụ nữ, từ chối họ quyền bầu cử (và nhiều nhóm khác); Người Mỹ da đỏ bản địa, để tước đoạt đất đai và văn hóa của họ; Người Mỹ da đen gốc Phi, từ chối họ mọi thứ quyền của mọi loại, cả trước và sau khi Emancipation (cuộc giải phóng nô lệ); Người Mỹ gốc Nhật, những người đã bị bỏ trong các trại tập trung và bị tịch thu tài sản trong Thế chiến thứ hai; các cặp vợ chồng từ các sắc dân khác nhau, những cuộc hôn nhân của họ không hợp pháp cho đến năm 1967; và các cá nhân LGBTQ (những người với các giới tính khác), từ chối họ quyền yêu thương, kết hôn, sinh con và phục vụ trong quân đội và các nghề nghiệp khác.

   Như đã được báo cáo rộng rãi, chính quyền Trump đang vi phạm quyền của hàng ngàn trẻ em di cư bằng cách giam giữ họ bất hợp pháp trong nhiều tháng. Có thể mất đến hai năm trước khi những trẻ em này được đoàn tụ với gia đình. Một số có thể không bao giờ được đoàn tụ. Luật liên bang và một thỏa thuận của tòa án năm 1997 được gọi là Flores yêu cầu những đứa trẻ này được thả ra cho những người bảo lãnh ở Hoa Kỳ trong vòng hai mươi ngày, trong hầu hết các trường hợp. Biết được sự ngược đãi tàn bạo hiện nay đối với trẻ em di cư và lịch sử đen tối của Mỹ, tất cả chúng ta cần phải làm hết sức mình để vạch trần và lên tiếng chống lại mọi hình thức bất công, thù hận và cố chấp. Chúng ta không thể để quá khứ xấu xa của nước Mỹ tái diễn ở đây và bây giờ. Chúng ta hãy để tâm đến câu nói của Tiến sĩ Martin Luther King Jr. và đừng là người bạn im lặng.

   Tôi cũng kêu gọi tất cả người Mỹ và cộng đồng thế giới tham gia và tận lực hỗ trợ người tị nạn trên toàn thế giới. Có lẽ chúng ta có thể bắt đầu bằng cách cho họ thấy lòng trắc ẩn hơn là phỉ báng họ. Mỗi phút, có hai mươi người tị nạn trên thế giới phải dời chỗ ở của họ vì chiến tranh, và hơn nửa triệu người bị từ chối cho vào các quốc gia trú ẩn an toàn. Khi tôi viết điều này, hàng ngàn người tị nạn Venezuela đang chạy trốn do cuộc khủng hoảng chính trị xảy ra ở đất nước họ.

    Tôi tin tưởng rằng vào cuối ngày, chính lòng nhân bản, hoạt động của chúng ta và những hành động tử tế của con người đối với nhau sẽ cung cấp cho chúng ta một loại thuốc mạnh nhất để chữa lành vết thương chủng tộc, chính trị và xã hội, và để tạo thế giới của chúng ta thành một nơi tốt đẹp hơn. 

CỘNG HÒA và DÂN CHỦ Không Thể Tách Rời Nhau

Phúc Linh

Một thân hữu mới chuyển cho tôi xem một bài viết có tựa đề ” Hoa kỳ Một Quốc Gia Cộng Hòa, Chứ Không Phải Dân Chủ “ của một tác giả có công trình nghiên cứu về ý nghĩa của hai chữ Cộng hòa và Dân chủ.
Tác giả viết bài này nhằm mục đích đề cao đảng Cộng hòa và hạ thấp đảng Dân chủ.
Tác giả cho biết bài viết lấy nền tảng từ tư tưởng của sử gia John F. McManus (1931-2020)  rằng những vị tiền nhân có công dựng nước và giữ nước Hoa kỳ  đã cố tránh không cho Hoa kỳ rơi vào nền dân chủ.

Để chứng minh, tác giả viện dẫn ” Ông McManus đã viết : Many Americans would be surprised to learn that the word “Democracy” does not appear in the Declaration of Independence or the U.S. Constitution. Nor does it appear in any of the constitutions of the 50 states”  

Phiên dịch ra tiếng Việt : “ Nhiều người Mỹ có thể ngạc nhiên khi biết rằng chữ ‘Democracy’ không có trong Tuyên Ngôn Độc Lập hoặc Hiến Pháp Hoa Kỳ kể cả Hiến Pháp của bất cứ tiểu bang nào trong 50 tiểu bang ở Hoa Kỳ”.

Đoạn văn trên nêu ra ba vấn đề :

1/  Tại sao từ ngữ ” DÂN CHỦ ” không được viết trong bản Tuyên ngôn độc lập Hoa kỳ ngày 4/7/1776  The word “democracy” does not appear in the Declaration of Independence).

2/Tại sao từ ngữ ” Dân chủ ” không được viết trong bản Hiến pháp Hoa kỳ ngày 17/9/1787  có hiệu lực thì hành từ ngày 1/1/1789 ( The word “democracy” does not appear in the US Constitution).

3/Tại sao từ ngữ ” Dân chủ ” không được viết trong bản Hiến pháp của các tiểu bang   ( The word “democracy” does not appear in  any of the constitutions of the 50 states” ).

Khi nêu các thắc mắc hoặc các dữ kiện như vậy, đã tốn thời gian nghiên cứu lịch sử Hoa kỳ nhưng họ lại không chịu viết ra sự thật, không chịu giải thích cho mọi người hiểu lý do tại sao hai chữ DÂN CHỦ không có trong Tuyên Ngôn Độc Lập hoặc Hiến Pháp Hoa Kỳ,  kể cả Hiến Pháp của bất cứ tiểu bang nào trong 50 tiểu bang ở Hoa Kỳ”.

Tại sao tác giả cố tình không giải thích cho mọi người biết mà cố tình để lập lờ như vậy ?

Sự kiện thiếu thiện chí này dẫn đến hậu quả là không những không làm cho hai chữ ” DÂN CHỦ ” bị mất ý nghĩa quan trọng và rất cần thiết trong sinh hoạt chính trị bình thường của người dân một quốc gia và đảng Dân chủ cũng không vì thế mà bị tan tành ra mây khói.

Nguy hiểm hơn nữa là sự kiện thiếu thiện chí này còn dẫn đến hậu quả gây tác dụng phản tuyên truyền, nghĩa là thay vì họ cố tình tuyên truyền đả phá đảng Dân chủ để lôi kéo cử tri đang theo đảng Dân chủ hoặc cử tri thầm lặng về với đảng Cộng hòa thì lại làm cho cử tri khó chịu thêm, bất mãn thêm.

Xin hỏi hai chữ ” DÂN CHỦ ” có ý nghĩa xấu xa, tồi tệ lắm không mà bị họ né tránh ?

Lịch sử Hoa kỳ cho thấy hai đảng, đảng Dân chủ Democratic Party ) đã xuất hiện trong hoạt chính trị trước đảng Cộng hòa ( Republic Party ) rất lâu.   Đảng Dân chủ được thành lập từ đầu thập niên 1790  (  The Democratic Party was created in the early 1790s by former members of the Democratic- Republican Party founded by influential Anti-Federalists including Thomas Jefferson and James Madison ). 

Các cựu tổng thống Bill Clinton, Jimmy Carter, Lyndon B. Johnson, John F. Kennedy, Harry S. Truman, Franklin D. Roosevelt và Woodrow Wilson và Barack Obama…  là đảng viên đảng Dân chủ.  

Khi những ” người Việt yêu Trump ” chửi bới, thóa mạ đảng Dân chủ, mạ lỵ những người thích đảng Dân chủ thì họ cũng  đã đồng thời thoá mạ …những vị tiền nhân đã có công dựng nước và giữ nước Mỹ từ ngày xa xưa khi chưa có người Việt trên đất Mỹ cho đến những người đã có công giữ nước Mỹ ngày nay. 

Đảng Cộng hòa thường được gọi là  ” Grand Old Party” viết tắt là GOP  được chính thức thành lập vào năm 1854 sau nhiều biến chuyển từ đảng Whig. ( The Republican Party, often called the GOP (short for “Grand Old Party”) founded in 1854  ) .
 Các cựu tổng thống George W. Bush, George HW Bush, Ronald Reagan, Richard Nixon, Dwight D. Eisenhower, Theodore Roosevelt, và Abraham Lincoln ….  là đảng viên đảng Cộng hòa.
Hơn 150 năm qua, hai đảng Cộng hòa và Dân chủ thay phiên nhau điều hành đất nước Hoa kỳ, cho nên, dù có bị ” người Việt thần thánh hóa Trump “  đã và đang bằng mọi cách, mọi hình thức, mọi thủ đoạn bịa đặt, xuyên tạc sự thật cố gắng bôi tro trát trấu đảng Dân chủ như thế nào chăng nữa, hai đảng này sẽ vẫn tồn tại, vẫn hợp tác với nhau và thay phiên nhau làm công việc điều hành đất nước. 

Thực ra, hai đảng Dân chủ và Cộng hòa có chung một nguồn gôc hoặc xuất xứ là đảng Dân chủ – Cộng hòa ( Democratic – Republican Party ).

Để có thể hiểu lý do tại sao hai chữ DÂN CHỦ ( Democracy ) không có trong hai bản Tuyên Ngôn Độc Lập hoặc Hiến Pháp Hoa Kỳ,  kể cả Hiến Pháp của bất cứ tiểu bang nào trong 50 tiểu bang ở Hoa Kỳ”, thiết nghĩ, chúng ta cần phải hiểu sơ qua lịch sử Hoa kỳ .

Trước hết, hai chữ DÂN CHỦ có ý nghĩa như thế nào ?

Dân chủ có nguồn gốc từ thủ đô Athena của nước Hy Lạp thời xa xưa, có nghĩa là ” quyền lực thuộc về nhân dân “, theo đó, người dân quyết định mọi việc điều hành đất nước thông qua bầu cử trực tiếp hoặc gián tiếp

Như vậy, nói một cách đơn giản, dễ hiểu thì dân chủ  là quyền làm chủ của nhân dân đối với đất nước của họ.

Trả lời câu hỏi 1

Tại sao từ ngữ ” DÂN CHỦ ” không được viết trong bản Tuyên ngôn độc lập Hoa kỳ  The word “democracy” does not appear in the Declaration of Independence ).

Như mọi người đã biết, khởi đầu, Hoa kỳ chỉ là 13 thuộc địa của Khối Liệp hiệp Anh từ năm 1607.  13 thuộc địa này đã chống lại nước Anh và bản Tuyên Ngôn Độc Lập của Hoa kỳ được công bố vào ngày 4 tháng 7 năm 1776.

Như vậy, qúy vị đã rõ câu trả lời thật đơn giản và dễ hiểu lý do từ ngữ Democracy không có trong bản Tuyên Ngôn Độc Lập của Hoa kỳ bởi vì  bản Tuyên Ngôn Độc Lập được công bố vào ngày 4 tháng 7 năm 1776 chỉ có mục đích duy nhất là xác định với đế quốc Anh và thế giới rằng   13 tiểu bang đầu tiên của Hoa kỳ  là các tiểu bang New Hampshire  –  Massachusetts  –  Rhode Island – Connecticut  –  New York  –  New Jersey  –  Pennsylvania  –  Maryland  –  Delaware  –  Virginia –  North Carolina  –  South Carolina  và  Georgia   kể từ nay, không còn là thuộc địa của nước Anh nữa.

( The Declaration explained why the Thirteen Colonies at war with the Kingdom of Great Britain regarded themselves as thirteen independent sovereign states, no longer under British rule.

The declaration was signed by representatives from New HampshireMassachusetts BayRhode IslandConnecticutNew YorkNew JerseyPennsylvaniaMarylandDelawareVirginiaNorth CarolinaSouth Carolina, and Georgia ).

Trả lời câu hỏi 2

Tại sao từ ngữ ” Dân chủ ” không được viết trong bản Hiến pháp Hoa kỳ   ( The word “democracy” does not appear in the US Constitution).

Mặc dù là một liên bang Hoa kỳ với 40 tiểu bang, nhưng từ năm 1858, các tiểu bang vẫn bất đồng với nhau về vấn đề nô lệ.

Khi chế độ nô lệ còn tồn tại, tinh thần kỳ thị chủng tộc và tinh thần tôn vinh người da trắng thượng đẳng vẫn phát triển.

Sau khi ông Abraham Lincoln đắc cử Tổng thống liên bang Hoa kỳ vào tháng 3/1861 với chủ trương đặt chế độ nô lệ ra ngoài vòng pháp luật thì các tiều bang miền Nam chủ trương bảo vệ và thi hành chế độ nô lệ tuyên bố rút ra khỏi Liên bang Hoa kỳ để thành lập Liên minh miền Nam và chiến tranh giữa hai miền Nam – Bắc bùng nổ vào ngày 12/4/1861.

Cuộc nội chiến tại Hoa kỳ giữa hai bên :  25 tiểu bang miền Bắc của Liên bang Hoa kỳ chủ trương bãi bỏ chế độ nô lệ ( California, Connecticut, Delaware, Illinois, Indiana, Iowa, Kansas, Kentucky, Maine, Maryland, Massachusetts, Michigan, Minnesota, Missouri, Nevada, New Hampshire, New Jersey, New York, Ohio, Oregon, Pennsyvalnia, Rhode Island, Vermont, West Virginia, Wisconsin )  chống lại 15 tiểu bang của Liên minh miền Nam  chủ trương duy trì và bảo vệ chế độ nô lệ Texas, Missouri, Mississippi, Maryland, North Carolina, South Carolina, Georgia, Tennesse, Kentucky, Indiana, Virginia, West Virginia, Florida, Louisiana và  Alabama ) kéo dài suốt 4 năm, từ tháng 4/1861 đến tháng 4/1865.

Sau cuộc nội chiến, chính phủ liên bang Hoa kỳ đã bắt đầu những cuộc chiến vối dân da đỏ và các quốc gia khác để mở mang bờ cõi từ 40 tiểu bang trở thành 50 tiều bang như ngày nay.

Đảng Ku Klux Klan còn được gọi là đảng KKK hoặc Klan, là đảng của những người Mỹ da trắng có chủ trương kỳ thị, phân biệt chủng tộc với người da đen xuất hiện năm 1860 tại các tiểu bang miền Nam chủ trương duy trì và bảo vệ chế độ nô lệ, tôn vinh người da trắng thượng đẳng.Dưới đây là lá cờ của Liên minh miền Nam miệt thị người da đen chỉ là mọi rợ, là nô lệ, họ chủ trương  phân biệt chủng tộc và bảo vệ chế độ nô lệ.

Inline image

Sau khi cuộc nội chiến chấm dứt, chính phủ liên bang Hoa kỳ đã bắt đầu những cuộc chiến vối dân da đỏ và các quốc gia khác để mở mang bờ cõi từ 40 tiểu bang trở thành 50 tiều bang như ngày nay.

Vậy từ ngữ Cộng hòa nghĩa là gì ?

Cộng hòa là một thể chế chính trị, trọng đó, quyền lực của quốc gia thuộc về người dân, do người dân thực hiện thông qua người đại diện do người dân bầu raRepublic, form of government in which a state is ruled by representatives of the citizen body ).

Hoa kỳ là một quốc gia Cộng hòa liên bang.

Hiện nay, trên thế giới, các quốc gia đều theo thể chế Cộng hòa, chẳng hạn Cộng hòa nhân dân Trung hoa, sau năm 1975, Mặt trận giải phóng miền Nam lấy tên là Cộng hòa miền Nam Việt Nam…..

Cũng vì Hoa kỳ là một quốc gia Cộng hòa liên bang nên có nhiều tranh luận rằng Hoa kỳ không phải là một quốc gia dân chủ.

The United States of America is governed as a federal republic, and therefore some argue that the U.S. is not a democracy.

A republic is defined as a political system in which the supreme power is vested upon the citizenry that is entitled to vote for its representatives and officers responsible to them  Một thể chế hoặc một nền cộng hòa được định nghĩa là một hệ thống chính trị, trong đó quyền lực tối cao thuộc về công dân có quyền bỏ phiếu bầu ra các đại diện và các nhân viên chính quyền chịu trách nhiệm với những cử tri )

A democracy is defined as a government of the people and by the people exercised through elected or direct representative  ( Một nền dân chủ được định nghĩa là một chính phủ của nhân dân và bởi những người dân thực hiện quyền lực của họ thông qua các người đại diện được họ bầu hoặc trực tiếp ).

 It can be difficult to distinguish between a democracy and a republic, and therefore it would be rational to conclude that the United States is both a democracy and a republic ( Rất khó có thể phân biệt sự khác nhau giữa Cộng hòa và Dân chủ nên mọi người đồng ý rằng Hoa kỳ là một quốc gia Dân chủ Cộng hòa ).

Kính thưa qúy vị,  

Trong khi cuộc nội chiến đang xảy ra,  TT Abraham Lincoln đã đến thị trấn Gettysburg vào năm 1863 để đọc một bài diễn văn do ông Thomas Jefferson ( sau này là Tổng thống ) soạn thảo khuyến khích tinh thần chiến đấu của binh sỹ.  Bài diễn văn không trích dẫn Hiến pháp Hoa kỳ năm 1789 vì chế độ nô lệ được công nhận trong bản Hiến pháp này.

TT Abraham Lincoln đã nêu cao tinh thần tự do dân chủ với cam kết : ” Chính phủ Hoa kỳ là một ” chính phủ của dân – do dân và vì dân “( Government of the people, by the people and for the people ).

Bài diễn văn này đã trở thành bản tuyên ngôn tiêu biểu của tinh thần của ngưởi dân Mỹ, của nước Mỹ, phục vụ cho tinh thần dân tộc, quyền bình đẳng của mọi sắc dân, tự do, và dân chủ.

Hiểu một cách đơn giản, các quốc gia theo thể chế Cộng hòa đều áp dụng hình thức hoặc nguyên tắc dân chủ là bầu cử để thực hiện quyền tối cao của người dân trong việc điều hành đất nước, cụ thể là bầu các vị tổng thống, thống đốc, thị trưởng, quận trưởng hoặc các vị dân biểu và thượng nghị sỹ vào quốc hội liên bang, tiểu bang….bầu các vị thẩm phán ….. và những vị do dân bầu ra phải chịu trách nhiệm trước quốc dân.
Mặc dù sử gia John F. McManus (1931-2020) viết rằngnhững vị tiền nhân có công dựng nước và giữ nước Hoa kỳ  đã cố tránh không cho Hoa kỳ rơi vào nền dân chủ, nhưng điều này có đúng không ? 

Có phải  sự thật là những vị tiền nhân mong muốn Hoa kỳ là một đất nước KHÔNG có dân chủ không ?
Xin hỏi những vị tiền nhân và người dân Hoa kỳ ước muốn điều gì và họ đã làm gì để phụng sự đất nước và người dân Mỹ ?

Thực tế chứng minh họ đã cố gắng xây dựng Hoa kỳ trở thành một quốc gia có một nền dân chủ vững mạnh  nên đã từ rất lâu, người dân các quốc gia trên thế giới đều khen ngợi Hoa kỳ là một quốc gia DÂN CHỦ nhất thế giới và họ muốn đến sinh sống tại nước Mỹ, ngoài lý do được hưởng những tiến bộ văn minh về y khoa, khoa học kỹ thuật… và cũng vì nền DÂN CHỦ tốt đẹp này. 

Qua báo chí, chúng tôi chưa bao giờ nghe người dân trên thế giới khen rằng Hoa kỳ là một quốc gia CỘNG HÒA nhất thế giới.

Vì vậy, không nên nói Hoa kỳ không phải là một quốc gia dân chủ… chỉ tự vạch áo cho người xem lưng hoặc tự tố cáo kiến thức và trình độ nhận thức của mình trước công luận

Trả lời câu hỏi 3

Tại sao từ ngữ ” Dân chủ ” không được viết trong bản Hiến pháp của các tiểu bang   ( The word “democracy” does not appear in  any of the constitutions of the 50 states” )Bởi vì Hiến pháp Hoa kỳ quy định rằng Liên bang dành quyền cho các tiểu bang được thành lập chính quyền theo thể chế Cộng hòa.

The Guarantee Clause of Article 4 of rthe Constitution states that ” The United States shall guarantee to every State in this Union a Republican Form of Government “

Như trên đã trình bày, các hình thức dân chủ và nguyên tắc dân chủ phải được áp dụng trong mọi thể chế Cộng hòa.

Nói khác đi, Dân chủ là hình thức thực hiện chính thể Cộng hòa.  Nếu một đất nước không áp dụng các hình thức, nguyên tắc… dân chủ để bảo đảm quyến làm chủ đất nước của người dân thì đất nước đó không phải là một đất nước theo thể chế Cộng hòa, mà sẽ là thể chế nào khác, chẳng hạn quân chủ hoặc độc tài ……

Kính thưa qúy vị,

Các tiểu bang ủng hộ chế độ nô lệ đều là các tiểu bang ở miền Nam Hoa Kỳ, đa số là  các tiểu bang đã có tỷ lệ ủng hộ ông Trump cao, ông đã giành chiến thắng trong cuộc bầu cử tổng thống năm 2016, và đó cũng là các tiểu bang mà TT Trump hy vọng sẽ có được tỷ lệ ủng hộ cao để tái đắc cử trong cuộc bỏ phiếu bầu Tổng thống đầu tháng 11 tới.

Mọi người đã biết đảng KKK là đảng kỳ thị chủng tộc, tôn sùng tinh thần người da trắng thượng đẳng cũng đang hoạt động ở những tiểu bang miền Nam này.
Trong cuộc phỏng vấn trên Fox News Sunday, ông Trump được hỏi rằngliệu lá cờ, thứ được nhiều người Mỹ xem là biểu tượng của chế độ nô lệ và chủ nghĩa thượng đẳng da trắng tại Mỹ, có phải là một sự xúc phạm hay không.
Tổng thống Mỹ Donald Trump nói  lá cờ của Liên minh miền Nam (Confederate), một phe trong Nội chiến Mỹ, là niềm tự hào của những người yêu miền Nam.
Tuần qua, bà Mary Trump, cháu gọi TT Trump là chú, đã tiết lộ ông Donald Trump và gia đình đã có tinh thần kỳ thị chủng tộc từ khi ông còn trẻ tuổi, nên bà không ngạc nhiên khi ông Trump biểu lộ thái độ và lời nói phân biệt chủng tộc mạnh bạo hơn từ khi ông làm Tổng thống.
Dưới đây là tấm bảng vận động bầu cho ứng cử viên Donald Trump trong kỳ bầu cử tháng 11/2020 sắp tới với hai lá cờ của Liên minh miền Nam biểu tượng cho chế độ nô lệ và tinh thần phân biệt chủng tộc ở hai bên.

Inline image

 Trong hơn 10 năm quađảng Cộng hòa đã cố gắng xóa bỏ chương trình bảo hiểm y tế  cho toàn dân Obamacare nhưng điều vô lý là họ đã không có một chương trình bảo hiểm y tế nào khác tốt hơn để thay thế cho Obamacare sau khi bị bãi bỏ, sẽ đẩy người dân nghèo vào tình trạng không an toàn trong cuộc sống.

Sau khi cắt giảm thuế trên 1.000 tỷ Mỹ kim vào năm 2018 trợ giúp cho giới giàu có, trong đó có gia đình của TT Trump làm cho ngân sách quốc gia bị mất đi trên 1.000 tỷ Mỹ kim,  TT Donald Trump và đảng Cộng hòa phải tìm cách bù đắp trả lại cho ngân sách con số trên 1.000 tỷ Mỹ kim bị thiếu hụt vì cắt giảm thuế cho người giàu.
TT Trump và đảng Cộng hòa đã làm gì để có số tiền trên $1.000 tỷ đó và bằng cách nào ?
TT Donald Trump và đảng Cộng hòa đã và đang đang cố gắng cắt giảm và hạn chế càng nhiều càng tốt các khoản tiền dành cho việc trợ cấp phúc lợi xã hội cho người dân nghèo và các quyền lợi an sinh xã hội của người lao động, số tiền bị cắt giảm lên tới con số $1.594 tỷ Mỹ kim trong 10 năm, từ 2019 đến 2029, bao gồm $817 tỷ cho Medicare + Medicare Part D và $777 tỷ cho Medicaid, phần lớn là nhắm vào chương trình Medicaid mở rộng ( Medicaid Expansion ) của Obamacare đang áp dụng tại 37 tiểu bang.
Với sự cắt giảm ngân sách dành cho dân nghèo trên $1.500 tỷ để giúp cho người giàu, TT Trump và đảng Cộng hòa có dư tiền bù đắp cho ngân sách trên $1.000 tỷ vì giúp cho người giàu. 

Đây là một hiện tượng trái ngược với lẽ bình thường từ xưa cho đến nay là lấy tiền của kẻ giàu để cứu giúp người nghèo.

Quay trở lại vấn đề Medicaid mở rộng thì hiện nay, chỉ có 13 tiểu bang KHÔNG áp dụng Medicaid expansion :  Alabama – Florida –  Georgia – Kansas – Missisippi – Missouri –  – North Carolina –  South Carolina –  Tenessee – Texas –  South Dakota  – Wisconsin and Wyoming( So far, 37 states and Washington, D.C., have expanded or voted to expand Medicaid, while 13 states have not ).

Tại các tiểu bang này, người dân nghèo không có lợi tức và không có con nhỏ sẽ không có Medicaid và cũng không có bảo hiểm y tế Obamacare vì lợi tức tối thiểu để được mua Obamacare là 138% của mức nghèo tức $17.609/năm hoặc $1.467/tháng dẫn đến hậu quả là họ trở thành những người công dân nghèo không có bảo hiểm y tế.
Ví dụ người lao động đã đóng thuế mua bảo hiểm y tế để phòng khi bị mất khả năng lao động khi tuổi còn trẻ hoặc khi tuổi già có Medicare, nhưng kể từ năm 2019, người dưới 45 tuổi bị mất khả năng lao động nhưng không biết tiếng Anh sẽ rất khó được hưởng quyền lợi y tế SSDI vì không có khả năng Anh ngữ sẽ là trở ngại tìm việc làm khác so với sức khỏe yếu…..

Phúc Linh